CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (hay còn gọi là M&A) được xem xét dưới 02 góc độ chủ yếu là góc độ kinh tế và góc độ pháp lý. Ở góc độ kinh tế - M&A được xem xét như là một vấn đề của quản trị chiến lược công ty và tài chính doanh nghiệp; ở góc độ pháp lý – M&A lại được xem xét như là khung pháp lý để thực hiện giao dịch M&A).
- Dưới góc độ kinh tế, M&A được hiểu như là hoạt động TTKT gắn liền với việc hình thành và thay đổi cấu trúc của thị trường thông qua việc số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường giảm đi do các doanh nghiệp thực hiện hoạt động M&A. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nội sinh trong chính doanh nghiệp trên cơ sở nâng cao năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh, năng lực chiếm lĩnh thị trường của mỗi doanh nghiệp cũng là nguyên nhân làm thay đổi cấu trúc thị trường. Chính hoạt động M&A cũng như việc phát triển tiềm lực nội tại của các doanh nghiệp khiến cho xu thế cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ hơn. Sherman và Milledge A.
Hart2 (2006), hoạt động mua bán và sáp nhập bao gồm hoạt động hợp nhất doanh nghiệp/sáp nhập doanh nghiệp và hoạt động thâu tóm doanh nghiệp hay mua lại doanh nghiệp. Hiện nay trên thế giới, thuật ngữ M&A, viết tắt bởi hai từ tiếng Anh là Mergers và Acquisitions, sáp nhập và mua bán doanh nghiệp được nhắc tới khá nhiều với các quan điểm khác nhau. Scott3 (2003), “hợp nhất/sáp nhập doanh nghiệp là hoạt động để chỉ hai hay nhiều doanh nghiệp cùng thỏa thuận về việc chia sẻ thị phần, tài sản, hay thương hiệu với nhau để hình thành một doanh nghiệp hoàn toàn mới, với tên 2 Andrew J. Sherman và Milledge A.
Scott (2003), “An A to Z Guide to Investment Terms for Today's Investor”, Wall Street World. 9 gọi mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty cũ”. “Mua lại được hiểu là việc một doanh nghiệp mua lại/thôn tính một doanh nghiệp khác, hoạt động này không làm phát sinh hay hình thành một pháp nhân mới. Hoạt động mua lại/ thôn tính doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp mua lại giành được quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp mục tiêu.
Đó có thể là quyền kiểm soát cổ phiếu của công ty mục tiêu/dành được quyền kinh doanh/dành được tài sản của công ty mục tiêu”. Hiện tại, ở Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra được giải thích từ ngữ cụ thể nhất về hoạt động M&A mà chỉ đưa ra những khái niệm riêng lẻ về “hợp nhất”, “sáp nhập” và “mua lại” doanh nghiệp. Nhìn chung, hoạt động M&A được xem xét dưới nhiều góc độ như là một trong các hành vi TTKT được điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, như một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được điều chỉnh theo pháp luật về doanh nghiệp, như là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư4, hoạt động M&A cũng có thể được điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán nếu liên quan đến việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp. Khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 201 LDN năm 2020.
Cụ thể, sáp nhập doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. LDN năm 2020 không đề cập đến khái niệm mua bán doanh nghiệp. Trong khi đó, Khoản 4 Điều 29 Luật cạnh tranh 2018 lại xác định mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp/gián tiếp mua hoặc thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản và/hoặc vốn góp của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát hay chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại/ doanh nghiệp mục tiêu. LCT năm 2018 cũng có quy định về sáp nhập doanh nghiệp.
Theo đó, sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, 4 Phạm Trí Hùng (2006), Khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam, Báo đề dẫn tại Hội thảo “Về các hình thức đầu tư quy định tại Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư”, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tại TP Vinh, Nghệ An, 1-2-2006. 10 quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập“. Ngoài ra, Khoản 3 Điều 29 LCT năm 2018 có quy định về hợp nhất doanh nghiệp - theo đó, hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất. Theo quan điểm của một số nước trên thế giới thì cụm từ Merger và Acquisition có thể được định nghĩa như sau: - Acquisition: Mua bán hay mua lại được hiểu là hành động tiếp quản một công ty bằng cách mua lại công ty đó (sau đây gọi là công ty mục tiêu hay doanh nghiệp mục tiêu) bởi một công ty khác.
- Merger: Sáp nhập hay hợp nhất là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty để thành một công ty lớn hơn. Với các quy định như trên thì LDN năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan đã điều chỉnh một cách hợp lý vấn đề liên quan đến việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp trong quan hệ thương mại trong nước và quốc tế, phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tóm lại, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là khái niệm dùng để chỉ việc một doanh nghiệp tìm các nắm quyền kiểm soát đối với một doanh nghiệp thông qua việc thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tỷ lệ số lượng cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp mục tiêu mà việc thâu tóm đó đủ để doanh nghiệp khống chế các quyết định hay hoạt động của doanh nghiệp bán. Từ khái niệm về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã nêu ở trên, có thể rút ra những đặc điểm đặc điểm chủ yếu của hoạt động M&A như sau: Một là, M&A được thể hiện thông qua hình thức “hợp đồng”, một hợp đồng được thiết lập giữa các bên: bên bán và bên mua mà đối tượng của hợp đồng ở đây là doanh nghiệp được mua hoặc bán (gọi là doanh nghiệp mục tiêu).
Hoạt động này mang tính chất dân sự, trên cơ sở tự nguyện của các bên (các bên ở đây là bên mua 11 và bên bán) có địa vị pháp lý ngang nhau. Do đó, giao dịch giữa các bên là giao dịch dân sự, được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, chính vì vậy, mọi thỏa thuận trong giao dịch này hoàn toàn do các bên tham gia ký kết quyết định một cách tự nguyện và chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình. Hợp đồng M&A là văn bản quan trọng quy định các vấn đề liên quan đến giao dịch M&A giữa các doanh nghiệp. Hai là, đối tượng của hợp đồng M&A là một thực thể pháp lý, một loại hàng hóa đặc biệt.
Doanh nghiệp có đầy đủ yếu tố để trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, bởi doanh nghiệp có đủ các yếu tố của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng5: Giá trị của doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ: doanh nghiệp là kết tinh giá trị lao động từ những lao động trong doanh nghiệp cũng như là lao động và sự đầu tư của các cá nhân/tổ chức thành lập và điều hành doanh nghiệp đó; Giá trị sử dụng của doanh nghiệp được thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng/người tiêu dùng hay còn gọi là khách hàng của doanh nghiệp. Giá của doanh nghiệp được xác định dựa trên quan hệ cung – cầu của thị trường, vì vậy, giá của doanh nghiệp là yếu tố dễ biến động nhất. Tùy thuộc vào giá quan hệ cung – cầu trên thị trường cũng như tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp mà giá của doanh nghiệp có thể được định giá với giá trị nhiều tỷ đồng hay với một mức giá tượng trưng nhất định. Tuy nhiên, dù giá cả của doanh nghiệp được xác định là bao nhiêu, thì giá cả của doanh nghiệp vẫn luôn xoay quanh giá trị của doanh nghiệp đó.
Khi doanh nghiệp được coi là một loại hàng hóa, tất yếu sẽ hình thành thị trường mua bán loại hàng hóa đó - ở đây là thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Ba là, M&A là một hoạt động mà mục đích chính của nó là chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp bán (doanh nghiệp mục tiêu) cho doanh nghiệp mua. M&A không đơn thuần là sự chuyển giao tài sản của doanh nghiệp mà còn là chuyển giao những quyền, nghãi vụ pháp lý khác của 5 Theo Karl Max (1867), “Das Kapital - Kritik der politischen Oekonomie”, sách này đã được dịch sang tiếng Việt, “Tư bản luận”, Nxb Chính trị Quốc gia (1993). 12 doanh nghiệp mục tiêu cho doanh nghiệp mua như hệ thống phân phối của doanh nghiệp, thông tin khách hàng, thương hiệu sẵn có của doanh nghiệp,… Bốn là, hoạt động M&A phải được thừa nhận của pháp luật hay nói cách khác, hoạt động M&A chỉ được công nhận khi đã và buộc phải thông qua những thủ tục pháp lý nhất định theo quy định của nhà nước.
Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được công nhận khi được thành lập một cách hợp pháp thông qua thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Chính vì vậy, khi có các hoạt động nhằm mục đích chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu cho một cá nhân, pháp nhân khác như mua bán, sáp nhập, hợp nhất, … doanh nghiệp thì cần phải được thông qua bởi một cơ quan công quyền hay nói cách khác, hoạt động này phải được pháp luật công nhận. Tùy thuộc vào hình thức của hoạt động chuyển giao quyền mà pháp luật gán cho nó là “sáp nhập”6, “hợp nhất”7, “chuyển đổi hình thức doanh nghiệp”8.