Luận Văn: Nghiên Cứu MPLS Di Trú Mạng Riêng Bộ Công An Sang Mạng NGN

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu công nghệ mpls trong việc di trú mạng dùng riêng bộ công an sang mạng thế hệ mới ngn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Bảng ký hiệu các chữ viết tắt

Danh mục các hình vẽ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1 – NHỮNG NGUYÊN TẮC DI TRÚ LÊN MẠNG NGN

1.1. YÊU CẦU ĐỐI VỚI MẠNG NGN

1.1.1. Sự ra đời của NGN

1.1.2. Định nghĩa NGN

1.1.3. Các yêu cầu đối với NGN

1.2. CÁC NGUYÊN TẮC DI TRÚ LÊN NGN

1.3. CÁC CÔNG NGHỆ TRUYỀN TẢI CỦA MẠNG THẾ HỆ MỚI

1.3.1. Công nghệ truyền tải IP

1.3.2. Công nghệ truyền tải ATM

1.3.3. Đánh giá mạng trục IP và ATM

2. CHƯƠNG 2 - CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC (MPLS)

2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ MPLS

2.1.1. Giới thiệu về MPLS

2.1.2. Quá trình chuẩn hoá MPLS

2.1.3. Một số ứng dụng của MPLS

2.2. HOẠT ĐỘNG CỦA MPLS

2.2.1. Một số khái niệm cơ bản trong MPLS

2.2.2. Cấu trúc và các thành phần của mạng MPLS

2.2.3. Hoạt động của MPLS

2.2.4. Vấn đề đảm bảo chất lượng dịch vụ trong MPLS

2.3. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA MPLS

3. CHƯƠNG 3 - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MPLS TRONG VIỆC XÂY DỰNG MẠNG TÍCH HỢP ĐA DỊCH VỤ NGÀNH CÔNG AN

3.1. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN MẠNG TÍCH HỢP ĐA DỊCH VỤ NGÀNH CÔNG AN

3.1.1. Thực trạng về các hệ thống mạng viễn thông Bộ Công an

3.1.2. Dịch vụ thông tin trên mạng và hệ thống CSDL nghiệp vụ

3.1.3. Yêu cầu phát triển mạng tích hợp đa dịch vụ Ngành Công an

3.2. LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHO MẠNG LÕI CỦA MẠNG TÍCH HỢP ĐA DỊCH VỤ NGÀNH CÔNG AN

3.2.1. So sánh công nghệ ATM với công nghệ MPLS

3.2.2. Kinh nghiệm di trú lên NGN tại Việt Nam

3.3. GIẢI PHÁP MẠNG LÕI DỰA TRÊN MPLS CỦA MẠNG TÍCH HỢP ĐA DỊCH VỤ NGÀNH CÔNG AN

3.3.1. Thực hiện giai đoạn 1 di trú lên NGN

3.3.2. Thực hiện các giai đoạn tiếp theo di trú lên NGN

3.3.3. Giải quyết vấn đề đảm bảo an ninh an toàn cho mạng tích hợp đa dịch vụ Ngành Công an

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Di trú Mạng Bộ Công An Sang NGN Giới thiệu

Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà khai thác viễn thông, sự bùng nổ lưu lượng thông tin từ Internet, và nhu cầu dịch vụ đa phương tiện đã thúc đẩy xu hướng tích hợp mạng thoại truyền thống, Internet và mạng di động thành mạng thế hệ mới NGN. Việt Nam cũng đang hội nhập, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã triển khai xây dựng mạng NGN. Các mạng viễn thông dùng riêng của Bộ Công An cần phải có giải pháp di trú thích hợp lên NGN để tránh lãng phí đầu tư và tiếp cận công nghệ mới. Mục tiêu là cung cấp các dịch vụ mới và hòa mạng dễ dàng với các mạng công cộng. Luận văn này tập trung vào nghiên cứu để tìm ra hướng phát triển phù hợp cho mạng máy tính Bộ Công An trong điều kiện thực tiễn hiện nay. Đề tài "Nghiên cứu công nghệ MPLS trong việc di trú mạng dùng riêng Bộ Công An sang mạng thế hệ mới (NGN)" sẽ nghiên cứu một cách tổng quan về các yêu cầu và các nguyên tắc di trú lên mạng NGN, các công nghệ truyền dẫn được sử dụng cho mạng lõi. Từ đó đi sâu nghiên cứu về công nghệ MPLS là công nghệ hiện đang được lựa chọn cho hầu hết các mạng lõi. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trên, Luận văn đi vào xây dựng giải pháp ứng dụng công nghệ MPLS trong việc xây dựng mạng tích hợp đa dịch vụ ngành Công An trong quá trình di trú lên mạng NGN của mạng Viễn thông dùng riêng cho Bộ Công An. Cần cân nhắc và tính toán hợp lý tùy theo hoàn cảnh thực tế cụ thể của từng bộ, ban ngành để bảo toàn vốn đầu tư và tiếp cận công nghệ mới.

1.1. Sự ra đời và định nghĩa Mạng Thế Hệ Mới NGN

Khái niệm về mạng NGN xuất hiện vào cuối những năm 90. Các nhà khai thác viễn thông, cung cấp dịch vụ viễn thông và các hãng sản xuất thiết bị viễn thông trên thế giới có những quan điểm khác nhau về NGN. Theo ETSI, NGN là một khái niệm mô tả các mạng có sự phân chia hình thức thành các lớp, các mặt phẳng khác nhau và sử dụng các giao diện mở. Theo ITU, Next Generation Networks (NGN) là một thuật ngữ mô tả kiến trúc hệ thống mạng mà nó sẽ cho phép phát triển những dịch vụ tiên tiến mới trong mạng di động và mạng cố định trong tương lai, trong khi đó mạng vẫn phải đảm bảo hỗ trợ các dịch vụ đang tồn tại ngày nay. Các đặc tính chính của NGN bao gồm: Sử dụng kỹ thuật truyền dẫn trên cơ sở gói, phân chia các chức năng điều khiển, tách biệt phần cung cấp dịch vụ ra khỏi phần mạng, hỗ trợ nhiều loại hình dịch vụ thông tin, không còn ranh giới giữa các mạng, hỗ trợ các mạng di động, cung cấp không giới hạn cho người sử dụng truy nhập.

1.2. Các yêu cầu quan trọng đối với Mạng NGN hiện nay

Mạng NGN tương lai sẽ dựa trên nền chuyển mạch gói. Nền tảng này sẽ cung cấp các dịch vụ đa phương tiện, di động và thoại theo kiểu truyền thống (PSTN/ISDN) hoặc kiểu mới (IP/ATM). Để thiết kế mạng NGN, cần xác định rõ những yêu cầu theo quan điểm dịch vụ và mạng. Nhóm nghiên cứu SG13 của ITU-T đã xác định các yêu cầu sau cho NGN: Cung cấp các giao diện mở (API) cho phép tạo ra và khai thác các loại dịch vụ khác nhau, hỗ trợ cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ (đa phương tiện, dữ liệu, video, thoại), tách biệt việc cung cấp dịch vụ khỏi mạng, đảm bảo sự tương tác và liên thông với các mạng cũ, tính năng di động. Đối với người sử dụng, cần dễ dàng sử dụng dịch vụ, các thiết bị đầu cuối tích hợp, sử dụng cùng một hệ thống đánh số và đặt tên, có các cơ cấu tính cước khác nhau tùy theo chất lượng dịch vụ. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, cần giá đầu tư hợp lý, cung cấp giao diện mở, cung cấp hệ thống tính cước tích hợp, hỗ trợ tính di động và chuyển vùng.

II. Thách thức Di Trú MPLS Sang NGN Bộ Công An Vấn đề

Trong quá trình di trú lên NGN, yêu cầu đặt ra đối với các giải pháp là phải quan tâm giải quyết đến 3 vấn đề sau: Chất lượng dịch vụ (QoS) trong mạng NGN, An ninh an toàn dữ liệu, Hiệu quả trong đầu tư. Hiện nay có rất nhiều khuyến cáo, nguyên tắc và các bước khi di trú lên NGN. Dưới đây là những nguyên tắc cơ bản trong quá trình di trú lên NGN: Dịch vụ dữ liệu truyền qua mạng gói đa dịch vụ, hợp nhất các mạng khác nhau, không làm nhiễu loạn đến các dịch vụ đang tồn tại, những node truy nhập đa dịch vụ (gateway), sử dụng lại một cách tối đa các thiết bị đang tồn tại, hệ thống quản lý mạng trên cơ sở TMN, hợp nhất điều khiển, server ứng dụng đa phương tiện, tích hợp các OSS đang tồn tại, tích hợp tài nguyên, hỗ trợ trên nền mạng thông minh. Để phát triển các khả năng trên cần xây dựng các bước di trú thích hợp để tối thiểu hoá chi phí đầu tư nhưng vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ QoS.

2.1. Các nguyên tắc cơ bản khi di trú mạng MPLS sang NGN

Các nguyên tắc cơ bản bao gồm: Dịch vụ dữ liệu truyền qua mạng gói đa dịch vụ, khả năng tích hợp đa dạng dịch vụ dữ liệu mà ngày nay thường được chạy trên nền IP, ATM, FR và LL. Hợp nhất các mạng khác nhau, các bước di trú có thể hoàn thành sự hợp nhất giữa các mạng khác nhau tiến đến một mạng gói đa dịch vụ thống nhất. Không làm nhiễu loạn đến các dịch vụ đang tồn tại. Những node truy nhập đa dịch vụ (gateway) phải đảm bảo các yêu cầu đơn giản hoá phần truy cập mạng và thực hiện một cách mềm dẻo để duy trì những giao diện khách hàng đang tồn tại. Sử dụng lại một cách tối đa các thiết bị đang tồn tại để bảo vệ vốn đầu tư.

2.2. Giải pháp bảo mật và đảm bảo QoS khi di trú sang NGN

Hệ thống quản lý mạng nên dựa trên tiêu chuẩn TMN, với chuẩn mở, cung cấp cho khách hàng với các cấp độ dịch vụ mềm dẻo. Hợp nhất điều khiển: Thiết bị hợp nhất điều khiển như là Softswitch và các Gateway đảm nhiệm hoạt động xuyên suốt giữa các mạng khác nhau đang tồn tại để tiến tới NGN. Server ứng dụng đa phương tiện: Cùng với sự bắt tay với Softswitch, sẽ có nhiều server ứng dụng đa phương tiện để cung cấp các dịch vụ mới trên cơ sở gói. Tích hợp các OSS đang tồn tại và tích hợp tài nguyên khác nhau. Sự mềm dẻo phải đạt đến mức độ tối đa, kiến trúc mục tiêu đã được kế hoạch để cung cấp giao diện mở cho phép làm việc trong môi trường mạng đa nhà cung cấp và dễ dàng hơn trong việc tích hợp OSS đang tồn tại.

III. MPLS Giải Pháp Di Trú Mạng BCA Sang NGN Cách tiếp cận

Cấu trúc chức năng của mạng NGN về cơ bản gồm bốn lớp: Lớp kết nối, lớp trung gian hay lớp truyền thông, lớp điều khiển, lớp quản lý. Lớp truyền tải trong cấu trúc mạng NGN bao gồm cả chức năng truyền dẫn và chức năng chuyển mạch. Phần truyền (truyền dẫn) được xây dựng trên nền tảng vật lý là truyền dẫn quang với kỹ thuật ghép kênh quang đa bước sóng DWDM. Tại lớp 2 và lớp 3 của mạng truyền dẫn lõi (core network), kỹ thuật gói được sử dụng cho tất cả các dịch vụ với chất lượng dịch vụ QoS tùy yêu cầu cho từng loại dịch vụ. ATM hay IP/MPLS có thể được sử dụng làm nền cho truyền dẫn trên mạng lõi để đảm bảo QoS. Công nghệ truyền tải IP dựa trên giao thức chính của kiến trúc mạng Internet. Mạng truyền tải IP hoạt động dựa trên nguyên lý chuyển mạch gói. Các kỹ thuật chính hỗ trợ QoS trong mạng IP bao gồm: Dịch vụ cố gắng tối đa (Best Effort), Dịch vụ tích hợp - Integrated Services (IntServ), Dịch vụ Differentiated Services (DiffServ).

3.1. Phân tích kiến trúc lớp mạng NGN và công nghệ truyền tải

Cấu trúc chức năng của mạng NGN về cơ bản gồm bốn lớp: Lớp kết nối, lớp trung gian hay lớp truyền thông, lớp điều khiển, lớp quản lý. Lớp truyền tải trong cấu trúc mạng NGN bao gồm cả chức năng truyền dẫn và chức năng chuyển mạch. Trong đó, phần truyền (truyền dẫn) được xây dựng trên nền tảng vật lý là truyền dẫn quang với kỹ thuật ghép kênh quang đa bước sóng DWDM. Tại lớp 2 và lớp 3 của mạng truyền dẫn lõi (core network), kỹ thuật gói được sử dụng cho tất cả các dịch vụ với chất lượng dịch vụ QoS tùy yêu cầu cho từng loại dịch vụ. ATM hay IP/MPLS có thể được sử dụng làm nền cho truyền dẫn trên mạng lõi để đảm bảo QoS.

3.2. Đánh giá các kỹ thuật QoS Best Effort IntServ DiffServ trong IP

Hiện nay có ba kỹ thuật chính hỗ trợ QoS trong mạng IP, bao gồm: − Dịch vụ cố gắng tối đa (Best Effort). Đây là dịch vụ phố biến trên mạng Internet hay mạng IP nói chung. Các gói thông tin được truyền đi theo nguyên tắc “đến trước được phục vụ trước” mà không quan tâm đến đặc tính lưu lượng của dịch vụ là gì. − Dịch vụ tích hợp - Integrated Services (IntServ). Đây là sự phát triển của mạng IP nhằm đồng thời cung cấp các dịch vụ truyền thống Best Effort và các dịch vụ thời gian thực. − Dịch vụ Differentiated Services (DiffServ). Diffserv sử dụng việc đánh dấu gói và xếp hàng theo loại để hỗ trợ dịch vụ ưu tiên qua mạng IP.

IV. Ứng dụng MPLS Trong Mạng Tích Hợp Ngành Công An Giải pháp

MPLS (Multiprotocol label switching) là kết quả phát triển của nhiều công nghệ chuyển mạch IP sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn như của ATM để tăng tốc độ truyền gói tin mà không cần thay đổi các giao thức định tuyến của IP. MPLS là một công nghệ kết hợp đặc điểm tốt nhất giữa định tuyến lớp ba và chuyển mạch lớp hai cho phép chuyển tải các gói rất nhanh trong mạng lõi (core) và định tuyến tốt ở mạng biên (edge) bằng cách dựa vào nhãn (label). MPLS là một phương pháp cải tiến việc chuyển tiếp gói trên mạng bằng các nhãn được gắn với mỗi gói IP, tế bào ATM, hoặc frame lớp hai. Phương pháp chuyển mạch nhãn giúp các Router và MPLS-enable ATM switch ra quyết định theo nội dung nhãn tốt hơn việc định tuyến phức tạp theo địa chỉ IP đích.

4.1. Tổng quan về công nghệ MPLS và các khái niệm cơ bản

MPLS là một công nghệ kết hợp đặc điểm tốt nhất giữa định tuyến lớp ba và chuyển mạch lớp hai cho phép chuyển tải các gói rất nhanh trong mạng lõi (core) và định tuyến tốt ở mạng biên (edge) bằng cách dựa vào nhãn (label). Các khái niệm cơ bản trong MPLS bao gồm: Lớp chuyển tiếp tương đương (FEC), Nhãn và gán nhãn, Ngăn xếp nhãn, Bảng chuyển tiếp chuyển mạch nhãn, Cơ sở dữ liệu nhãn (LIB), Đường chuyển mạch nhãn (LSP), Cơ cấu báo hiệu.

4.2. Cấu trúc mạng MPLS MPLS Core MPLS Edge và hoạt động

Một cách tổng quát, cấu trúc mạng MPLS gồm có hai phần Lõi MPLS (MPLS Core) và Biên MPLS (MPLS Edge). Cả hai phần này đều chứa thành phần quan trọng cơ bản của mạng MPLS là thiết bị định tuyến chuyển mạch nhãn LSR (Label Switch Router). Thiết bị này thực hiện chức năng chuyển tiếp gói thông tin trong phạm vi mạng MPLS bằng thủ tục phân phối nhãn. Để truyền gói tin qua mạng MPLS, hệ thống thực hiện các bước: Tạo và phân phối nhãn, tạo bảng cho mỗi bộ định tuyến, tạo đường chuyển mạch nhãn, gán nhãn dựa trên tra cứu bảng, truyền gói tin.

V. So sánh MPLS Với ATM Ưu Điểm Nhược Điểm

Giải pháp công nghệ MPLS là kết quả của phát triển nhiều giải pháp chuyển mạch IP, mục tiêu cơ bản của giải pháp này là tích hợp định tuyến và chuyển mạch thành một tiêu chuẩn đơn nhất. MPLS có khả năng chuyển các gói tin tại lớp 3 và tại lớp 2 sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn như một kỹ thuật chuyển tiếp MPLS dựa trên mô hình ngang cấp. MPLS cũng có thể coi như một giải pháp công nghệ tổ hợp MPLS. Khi chạy trên phần cứng ATM, cả MPLS và forum ATM đều sử dụng cùng một khung dạng gói tin (53 bytes), cùng nhãn (VPINCL), cùng một kỹ thuật dán nhãn cho tế bào chuyển mạch, cùng chức năng trên các thiết bị gờ mạng.

5.1. Ưu điểm vượt trội của công nghệ MPLS so với công nghệ ATM

MPLS cung cấp tốc độ và độ trễ: Chuyển mạch nhãn được cung cấp để giải quyết vấn đề về tốc độ và độ trễ một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng dịch vụ.Khả năng tích hợp các chức năng định tuyến, đánh địa chỉ, điều khiển v. trong MPLS tránh được sự phức tạp trong NHRP, MPoA, IPoA. MPLS Có thể giải quyết vấn đề độ phức tạp và nâng cao khả năng mở rộng đáng kể và có thể triển khai các chức năng định tuyến mà các công nghệ trước không thể thực hiện được như định tuyến hiện (explicit routing), điều khiển lặp v.v… Tăng chất lượng mạng,có thể dễ dàng chuyển mạch luồng dữ liệu sang một đường mới và ATM cho phép tận dụng tối đa thiết bị, tăng hiệu quả đầu tư.

5.2. Nhược điểm Hạn chế khi triển khai mạng MPLS quy mô lớn

Việc hỗ trợ đa giao thức sẽ dẫn đến các vấn để phức tạp trong kết nối. Khó thực hiện hỗ trợ QoS xuyên suốt trước khi thiết bị đầu cuối người sử dụng thích hợp xuất hiện trên thị trường. Việc hợp nhất các kênh ảo đang còn tiếp tục nghiên cứu và giải quyết việc chèn tế bào sẽ chiếm nhiều tài nguyên bộ đệm hơn. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến phải đầu tư vào công việc nâng cấp phần cứng cho các thiết bị ATM hiện tại. MPLS có thể được nhìn nhận như một mặt bằng điều khiển trên ATM cho phép mở rộng phương pháp định tuyến và điều khiển lưu lượng IP.

VI. Thực Trạng Mạng Bộ Công An Hướng Ứng Dụng MPLS Kết luận

Hiện tại, hạ tầng truyền dẫn của Bộ Công An được hình thành trên cơ sở các luồng truyền dẫn E1 thuê của Bưu điện, Điện lực và các tuyến cáp quang kéo riêng. Mạng truyền dẫn được phân thành hai loại: mạng truyền dẫn tuyến trục và mạng truyền dẫn tuyến nhánh. Mạng điện thoại của Bộ Công an bao gồm các Tổng đài trên 1000 số phục vụ cho khối cơ quan Bộ tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và các hệ thống tổng đài điện thoại có dung lượng trên 300 số phục vụ hoạt động của Công an các tỉnh, thành phố. Hệ thống mạng máy tính Bộ Công an được hình thành trên cơ sở kết nối mạng diện rộng (WAN) cho các mạng LAN của Công an các tỉnh, thành phố và mạng LAN của các đơn vị cơ quan Bộ Công an. Cần có giải pháp ứng dụng MPLS để xây dựng mạng tích hợp đa dịch vụ ngành Công an.

6.1. Phân tích hiện trạng mạng truyền dẫn và mạng thoại Bộ Công An

Hạ tầng truyền dẫn của Bộ Công an được hình thành trên cơ sở các luồng truyền dẫn E1 thuê của Bưu điện, Điện lực và các tuyến cáp quang kéo riêng. Mạng truyền dẫn được phân thành hai loại: mạng truyền dẫn tuyến trục và mạng truyền dẫn tuyến nhánh. Mạng điện thoại của Bộ Công an bao gồm các Tổng đài trên 1000 số phục vụ cho khối cơ quan Bộ tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và các hệ thống tổng đài điện thoại có dung lượng trên 300 số phục vụ hoạt động của Công an các tỉnh, thành phố.

6.2. Đánh giá mạng dữ liệu Các dịch vụ thông tin triển khai trên đó

Hệ thống mạng máy tính Bộ Công an được hình thành trên cơ sở kết nối mạng diện rộng (WAN) cho các mạng LAN của Công an các tỉnh, thành phố và mạng LAN của các đơn vị cơ quan Bộ Công an. Các dịch vụ thông tin chủ yếu được triển khai trên nền Windows NT, Windows 2000 Server như hệ thống thư tín điện tử, dịch vụ Web, dịch vụ IP Phone (Voice over IP). Các cơ sở dữ liệu nghiệp vụ như CSDL Văn bản pháp luật, CSDL xe máy mất cắp, CSDL nghiệp vụ về trật tự an toàn xã hội, CSDL nhận dạng vân tay tự động, CSDL căn cước can phạm đang được sử dụng.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC DI TRÚ LÊN MẠNG NGN 1.1 Những yêu cầu đối với mạng NGN Mạng NGN được đưa ra với mong muốn sẽ cho phép giảm thiểu thời gian đưa dịch vụ mới ra thị trường, nâng cao hiệu suất sử dụng truyền dẫn, cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường khả năng kiểm soát, bảo mật thông tin của khách hàng. Ngoài ra, NGN còn phải đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng như cá nhân, văn phòng, doanh nghiệp. với các giao thức chuẩn và giao diện thân thiện và với tính thông minh của mình cho phép tạo tiền đề cho các bước phát triển của công nghệ và các dịch vụ mới trong tương lai.1 Sự ra đời của NGN Khái niệm về các mạng thế hệ sau NGN bắt đầu xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Cho đến nay, các nhà khai thác, cung cấp dịch vụ viễn thông, các hãng sản xuất thiết bị viễn thông trên thế giới vẫn còn có những quan điểm khác nhau về NGN.

Vào tháng 1 năm 2002, tại cuộc họp của nhóm nghiên cứu 13 của ITU-T đã nhất trí được rằng NGN phải được xem như là sự cụ thể hoá các khái niệm đã được định nghĩa cho cấu trúc hạ tầng thông tin toàn cầu GII (Global Information Infrastructure). Trong khuôn khổ của đề án GII của ITU-T (được bắt đầu từ 1995), một loạt các khuyến nghị Yxx đã được đưa ra, trong đó những khuyến nghị quan trọng nhất là: - ITU Rec. Y110 “Nguyên lý và cấu trúc tổ chức của GII” (GII principles and framework architectures) - ITU Rec. Y120 “Phương pháp luận và viễn cảnh của GII” (GII scenario and methodology) - ITU Rec.

Y130 “Cấu trúc truyền tin “ (Information communication architecture) - ITU Rec. Y140 “Các điểm chuẩn cho cơ cấu kết nối” (Reference points for the interconnection framework) Tuy nhiên các khuyến nghị Yxx chỉ đưa ra các định nghĩa về các khái niệm của cấu trúc hạ tầng thông tin toàn cầu GII chứ chưa đề cập đến các vấn đề liên quan tới việc triển khai mạng. Vì vậy tháng 1 năm 2002, ITU đã quyết định bắt đầu nghiên cứu chuẩn hoá NGN và tổ chức một đề án ITU-T mới, gọi là đề án NGN 2004, do nhóm nghiên cứu SG13 của ITU-T thực hiện. Nhiệm vụ của NGN 2004 là tổ chức nghiên cứu về NGN trong khuôn khổ ITU-T.

Mục tiêu của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 đề án này là chuẩn bị và đưa ra các khuyến nghị về NGN vào năm 2004 để các nhà khai thác có thể triển khai NGN từ năm 2005 trở đi.2 Định nghĩa NGN Vào thời điểm hiện nay, khi mà đề án NGN 2004 vẫn còn đang được triển khai, các khuyến nghị của ITU-T chưa được hoàn thành, rất khó có thể tìm được một định nghĩa của NGN được tất cả các nhà khai thác, cung cấp dịch vụ viễn thông, các hãng sản xuất thiết bị viễn thông trên thế giới chấp nhận. Nhóm nghiên cứu về NGN của ETSI (Europen Telecommunication Standards Institute) đã đưa ra định nghĩa sau cho NGN: “NGN là một khái niệm mô tả các mạng có sự phân chia hình thức thành các lớp, các mặt phẳng khác nhau và sử dụng các giao diện mở, cung cấp cho các nhà cung cấp dịch vụ một nền tảng có thể phát triển từng bước để tạo ra, triển khai và quản lý các dịch vụ mới” Theo hiệp hội viễn thông quốc tế ITU thì Next Generation Networks (NGN) là một thuật ngữ mô tả kiến trúc hệ thống mạng mà nó sẽ cho phép phát triển những dịch vụ tiên tiến mới trong mạng di động và mạng cố định trong tương lai, trong khi đó mạng vẫn phải đảm bảo hỗ trợ các dịch vụ đang tồn tại ngày nay. Để đạt được khả năng hoạt động liên mạng đối với các dịch vụ khác nhau, các công nghệ phải tuân theo tổ chức chuẩn toàn cầu như tổ chức ITU-T. Khái niệm NGN thường được đề cập thông qua các đặc tính như: - Sử dụng kỹ thuật truyền dẫn trên cơ sơ gói, - Phân chia thêm các chức năng điều khiển cho nguồn tài nguyên, cuộc gọi/phiên và dịch vụ/ứng dụng, - Tách riêng phần cung cấp dịch vụ ra khỏi phần mạng, - Hỗ trợ nhiều loại hình dịch vụ thông tin (bao gồm dịch vụ thời gian thực/ streaming/non-real time, point-to-point, multipoint, broadcast và các ứng dụng multicast voice, data, video and multi-media applications), - Không còn ranh giới giữa các mạng, - Hỗ trợ các mạng di động nói chung, - Cung cấp không giới hạn cho người sử dụng truy nhập, cung cấp các công nghệ truy nhập tốc độ cao qua Modem.3 Các yêu cầu đối với NGN Nhìn chung xu thế mạng tương lai sẽ dựa trên nền chuyển mạch gói.

Nền tảng chuyển mạch gói này sẽ được sử dụng để cung cấp các dịch vụ đa phương tiện và di dộng cũng như các dịch vụ thoại theo kiểu truyền thống (PSTN/ISDN) hay kiểu mới (IP/ATM). Để thiết kế mạng NGN phục vụ cho mục đích trên, đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 tiên cần phải xác định rõ những yêu cầu theo quan điểm dịch vụ và quan điểm mạng. Nhóm nghiên cứu SG13 của ITU-T đã xác định các yêu cầu sau cho NGN: - Để thích ứng với môi trường hoàn toàn mở và có tính cạnh tranh, cấu trúc chức năng của mạng cần cung cấp các giao diện mở tại đó các giao diện lập trình ứng dụng AIP (application programming interface) cho phép tạo ra và khai thác các loại dịch vụ khác nhau. - Để đáp ứng được sự bùng nổ về nhu cầu dịch vụ mới, NGN phải hỗ trợ cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ (ví dụ như đa phương tiện, dữ liệu, video, thoại).

Các dịch vụ này sẽ dựa trên các công nghệ chuyển tải có tính chất rất đa dạng: thời gian thực và phi thời gian thực, các tốc độ bit từ thấp đến cao, chất lượng dịch vụ (QoS) khác nhau, phương thức truyền dẫn điểm-điểm/điểm-đa điểm/quảng bá/đối thoại/hội nghị. - Việc cung cấp các dịch vụ cần được tách biệt khỏi mạng, điều này có nghĩa là các chức năng cung cấp dịch vụ sẽ được tách biệt khỏi các chức năng chuyển tải để đảm bảo rằng các dịch vụ sẽ được phát triển độc lập với hạ tầng mạng lưới. - Sự tương tác và liên thông với các mạng cũ (ví dụ như PSTN) cần được đảm bảo để các mạng này có thể phát triển dần lên thành NGN. - Tính năng di động là một đặc tính của NGN.

Đối với người sử dụng và với các nhà cung cấp dịch vụ, các yêu cầu trên được cụ thể hóa như sau: - Các yêu cầu đối với người sử dụng: + Dễ dàng sử dụng dịch vụ không có bất cứ giới hạn nào. + Các thiết bị đầu cuối tích hợp cho các dịch vụ vô tuyến và hữu tuyến dễ sử dụng. + Sử dụng cùng một hệ thống đánh số và đặt tên. + Có các cơ cấu tính cước khác nhau tùy theo chất lượng dịch vụ.

- Các yêu cầu đối với nhà cung cấp dịch vụ : + Giá đầu tư hợp lý với khả năng tối đa dùng chung mạng giữa các nhà cung cấp dịch vụ. + Cung cấp giao diện mở giữa các dịch vụ và tài nguyên mạng cho các nhà cung cấp dịch vụ khác. + Cung cấp hệ thống tính cước tích hợp giữa các nhà cung cấp dịch vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 + Hỗ trợ tính di động và chuyển vùng.2 Các nguyên tắc di trú lên NGN Trong quá trình di trú lên NGN, yêu cầu đặt ra đối với các giải pháp là phải quan tâm giải quyết đến 3 vấn đề sau: - Chất lượng dịch vụ (QoS) trong mạng NGN.

- An ninh an toàn dữ liệu. - Hiệu quả trong đầu tư. Hiện nay có rất nhiều khuyến cáo, nguyên tắc và các bước khi di trú lên NGN. Dưới đây là những nguyên tắc cơ bản trong quá trình di trú lên NGN: - Dịch vụ dữ liệu truyền qua mạng gói đa dịch vụ: Khả năng tích hợp đa dạng dịch vụ dữ liệu mà ngày nay thường được chạy trên nền IP, ATM, FR và LL, cho phép chúng được truyền thông suốt qua nhiều mạng khác nhau (mạng tích hợp) nhưng phải đảm bảo QoS.

- Hợp nhất các mạng khác nhau: Các bước di trú có thể hoàn thành sự hợp nhất giữa các mạng khác nhau tiến đến một mạng gói đa dịch vụ thống nhất - Không làm nhiễu loạn đến các dịch vụ đang tồn tại. Liên tục cải tiến hệ thống mạng, như mở rộng khả năng, năng lực của mạng. Từng bước tăng cường dịch vụ quản lý mà không làm xáo trộn đến các chức năng đang tồn tại để giữ được các khách hàng hiện tại. - Những node truy nhập đa dịch vụ (gateway) phải đảm bảo các yêu cầu: Đơn giản hoá phần truy cập mạng và thực hiện một cách mềm dẻo để duy trì những giao diện khách hàng đang tồn tại.

Đồng thời trong khi đó phải hỗ trợ các công nghệ truy nhập tiên tiến. - Sử dụng lại một cách tối đa các thiết bị đang tồn tại: Để bảo vệ vốn đầu tư việc sử dụng lại các thiết bị còn tồn tại trong mạng là một điều rất quan trọng để giảm thiểu vốn đầu tư cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế. - Hệ thống quản lý mạng trên cơ sở TMN: Mạng và hệ thống quản lý mạng nên dựa trên tiêu chuẩn TMN, với chuẩn mở, cung cấp cho khách hàng với các cấp độ dịch vụ mềm dẻo. Kiến trúc mở này cũng cho phép tích hợp cơ chế quản lý cũ, những hệ thống điều hành và hệ thống kinh doanh đang tồn tại và giá thành dịch vụ phải giảm đáng kể.

- Hợp nhất điều khiển: Thiết bị hợp nhất điều khiển như là Softswitch và các Gateway đảm nhiệm hoạt động xuyên suốt giữa các mạng khác nhau đang tồn tại để tiến tới NGN. Sự tiến triển này đảm bảo duy trì dịch vụ thoại cũng như phát triển nhanh hơn và hiệu quả hơn các dịch vụ mới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Server ứng dụng đa phương tiện: Cùng với sự bắt tay với Softswitch, sẽ có nhiều server ứng dụng đa phương tiện để cung cấp các dịch vụ mới trên cơ sở gói, cũng như việc thực hiện trên giao diện ứng dụng trình mở (API) để cho phép thực hiện các dịch vụ mới và các ứng dụng mới. - Tích hợp các OSS đang tồn tại: Sự mềm dẻo phải đạt đến mức độ tối đa, kiến trúc mục tiêu đã được kế hoạch để cung cấp giao diện mở cho phép làm việc trong môi trường mạng đa nhà cung cấp và dễ dàng hơn trong việc tích hợp OSS đang tồn tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ