CHƯƠNG 1 - PHƯƠNG TRÌNH PAULI VÀ MÔMEN TỪ CỦA ELECTRON 8 Phương trình Pauli và số hạng tương tác giữa mômen từ của electron với trường điện từ ngoài có thể thu được bằng hai cách: i/ Tổng quát hóa phương trình Schrodinger bằng cách kể thêm spin của electron và tương tác của mômen từ với trường ngoài được giới thiệu ở mục 1.1; ii/ Từ phương trình Dirac cho electron ở trường điện từ ngoài, thực hiện phép gần đúng phi tương đối tính ở gần đúng bậc ta có phương trình Pauli cho electron với mômen từ. Nghiên cứu các bổ chính tương đối tính cho phương trình Pauli ở gần đúng bậc cao ta phải sử dụng phép biến đổi Fouldy-Wouthuyen.1 Phương trình Pauli Phương trình Pauli mô tả hạt có spin bằng ½ chuyển động trong trường điện từ ngoài với điều kiện vận tốc của hạt nhỏ hơn nhiều vận tốc ánh sáng. Phương trình Pauli có dạng phương trình Schrodinger (khi hạt có spin bằng không), song hàm song trong phương trình Pauli không phải là một vô hướng có một thành phần phụ thuộc vào các biến không gian và thời gian, mà còn chứa biến số spin của hạt là. Kết quả để cho hàm sóng là một spinor hai thành phần (1.1) Vì hạt có spin nên nó có mômen từ.
Từ thực nghiệm hiệu ứng Zeemann mômen từ của hạt với spin bằng .2) - là magneton Bohr, còn là các ma trận Pauli. Khi đăt hạt vào trường điện từ ngoài, ta có thêm năng lượng tương tác phụ.3) Hamiltonian của phương trình Schrodinger có dạng 9 (1.4) Nếu hạt ở trong trường điện từ ngoài, thì ta phải thực hiện các phép thay thế dưới đây trong phương trình Schrodinger (1.5) Kể thêm spin của hạt thì phương trình mô tả phải có thêm một năng lượng phụ. Kết quả ta thu được phương trình (1.6) ở đây , là thế vô hướng và thế véc tơ của trường điện từ. Phương trình (1.6) là phương trình Pauli, mà nhờ nó ta có thể giải thích được hiệu ứng Zeemann.2 Phương trình Dirac cho electron ở trường ngoài trong giới hạn phi tương đối tính Xuất phát từ phương trình Dirac cho electron trong trường ngoài ở dạng chính tắc ta có: (1.7) Để nghiên cứu giới hạn phi tương đối tính cho phương trình (1.7), thuận tiện ta viết các spinor hai thành phần (1.8) Như vậy, phương trình (1.7) sẽ biến thành hệ phương trình (1.9) 10 Trong đó chỉ số u kí hiệu “trên” (hai thành phần trên) và d – “dưới” (hai thành phần dưới).10) Phương trình thứ hai của hệ (1.9) sẽ đưa đến nghiệm dương (+) (1.11) Còn phương trình đầu của hệ (1.9) sẽ đưa đến nghiệm âm (-) (1.12) Điều này có nghĩa như sau: trong trường hợp nghiệm dương thì spinor liên hệ với và trong trường hợp nghiệm âm thì spinor liên hệ với thừa số .12) vào phương trình còn lại của (1.9) để cho nghiệm dương ta có (1.13) Và để cho nghiệm âm (1.14) Cùng với việc sử dụng các đồng nhất thức sau , (1.15) 11 Những hệ thức này cuối cùng có thể hệ thống trong phương trình Dirac (1.16) đúng đến bậc cùng với toán tử và tự liên hợp.
Nếu chúng ta giới hạn ở nghiệm dương, có nghĩa hai thành phần đầu , thì phương trình này với độ chính xác trùng với phương trình Pauli để cho hạt có spin ½ trong trường điện từ ngoài Thật đáng chú ý đặc biệt ở chỗ quá trình giới hạn phi tương đối tính hóa của phương trình Dirac ở trường ngoài sẽ tự động dẫn đến số hạng tương tác giữa mômen từ (hay spin ) của hạt với từ trường ngoài, trong đó electron có mômen từ đúng khác với tỉ số từ hồi chuyển đúng đắn (thừa số Lande) (1.17) Ngược lại trong phương trình Pauli số hạng này đưa vào phương trình theo kiểu hiện tượng luận – “đưa vào bằng tay”. Đối với hạt không phải là cơ bản, như các proton hay các neutron quá trình giới hạn trên dẫn đến các kết quả sai. Rõ ràng trong những trường hợp này liên kết tối thiểu không đủ để kể thêm trường điện từ ngoài. Chính vì vậy để cho những hạt này, chúng ta có thể nhận được phương trình phi tương đối tính với các mômen từ đúng đắn phải bằng cách hiện tượng luận là cộng “bằng tay” các số hạng mômen.(xem them bài tập 11 và 22) 12 Để hoàn chỉnh phần này, chúng ta cũng phải lưu ý các biểu thức để cho mật độ xác suất và mật độ dòng xác suất tương ứng với phương trình (1.16) với độ chính xác .18) Chúng liên hệ với nhau bằng phương trình liên tục và trong trường hợp nghiệm dương , các biểu thức này trùng với công thức của lý thuyết phi tương đối tính.3 Các bổ chính tương đối tính cho phương trình Pauli Ta đã chỉ ra rằng việc lấy giới hạn phi tương đối tính phương trình Dirac ở trường điện từ ngoài ta thu được lý thuyết Pauli đúng tới bậc và sai sót trong Hamilton ở bậc.
Trong giới hạn này là chéo nhưng các nghiệm âm và dương là hoàn toàn “phân ly ”. Để chéo hóa toán tử Hamilton ở các bậc cao hơn một cách hệ thống, thì ta phải kể thêm các bổ chính tương đối tính, bằng cách sử dụng phép biến đổi Fouldy – Wouthuyen cho phương trình Dirac. Để đơn giản ta bắt đầu tử bậc và phương trình Dirac ở dạng (1.21) ở đây và là các toán tử chẵn (chéo) và toán tử lẻ (không chéo). Sử dụng việc chọn phép biến đổi Fouldy –Wouthuyen thích hợp với mục đích là 13 thay đổi các biểu diễn mới trong đó cao hơn và cao hơn bậc sao cho không động chạm đến điều nó sẽ đưa đến chéo hóa toán tử K đung đắn tới bậc.
Như vậy sau phép biến đổi thứ nhất, ta cần thu được (1.23) Và phép biến đổi thứ hai ta có (1.25) và tiếp tục.Lựa chọn tốt nhất cho phép biến đổi đầu tiên là (1.26) Chúng ta có thể nghiên cứu lại phép khai triển Baker-Hausdorff (1.60) cũng như công thức (1.62) cùng với phép thay thế cho việc tính toán cho việc tính toán kết quả K. Điều này sẽ dẫn đến (1.29) 14 Như ta đã thấy bây giờ đã nâng lên hai bậc Từ đây chúng ta nhận được toán tử đúng đến bậc , đúng trong phương trình Pauli (1.16) Để tiếp tục loại bỏ phần lẻ của các K-toán tử chẵn, chúng ta tiếp tục thực hiện phép biến đổi Fouldy –Wouthuyen thứ hai với cùng (1.30) Từ đây suy ra (1.33) Bỏ qua tất cả các số hạng (hay cao hơn) ta nhận được toán tử chẵn (1.34) Cuối cùng kết quả dẫn đến phương trình Dirac (1.35) Sử dụng phép biến đổi Fouldy –Wouthuyen ta tính một số công thức sau 15 (1.36) Tiếp theo ta tính giao hoán tử 16 (1.37) Khi tính các công thức (1.37) ta đã sử dụng các đồng nhất thức sau (1.38) Đúng đắn đến bậc với việc chéo hóa Hamilton (1.39) Và ta có hàm sóng (1.40) Tất cả ở đây, ta thấy việc chéo hóa thành công của toán tử Dirac Hamilton cho những bậc cao hơn có thể thực hiện Vậy ta đã giả thiết một số điểm sau đây - Khi các là tự liên hợp, thì các ma trận biến đổi Fouldy –Wouthuyen cũng là những phép biến đổi unita. Điều này có nghĩa bất biến của giá trị trung bình như phép biến đổi - Để cho toán tử Dirac – Hamilton, điều này có nghĩa khi sự biến đổi (1.41) tương đương với (1.42) - Các toán tử một hạt nhận được trong biểu diễn Fouldy –Wouthuyen theo phép biến đổi cho các toán tử ban đầu (tương đối tính) và sau đó tách các phần chéo. Phương pháp 17 Fouldy –Wouthuyen là không định xứ và “loang ra” của tọa độ hàm sóng cùng với kích thước so với bước sóng Compton của hạt.
- Phương pháp Fouldy –Wouthuyen chỉ chấp nhận cho những vấn đề vật lý trong vùng đúng đắn của một hạt ở đấy phép khai triển Fouldy –Wouthuyen là hội tụ. - Phép biến đổi Fouldy –Wouthuyen cho lý thuyết Dirac. phép biến đổi Fouldy – Wouthuyen đã cung cấp phương pháp chéo hóa Hamilton Dirac tới bậc bất kỳ hữu hạn nào đấy. Viết phương trình Dirac (1.43) Cùng với các toán tử chẵn , và toán tử lẻ lặp lại các hệ thức này theo (1.46) Ta nhận được biểu diễn mới của lý thuyết Dirac mà trong đó (1.47) Bỏ qua các toán tử lẻ, phần chẵn của dẫn đến lý thuyết một hạt chính xác cho hạt và phản hạt và đúng cho bậc.
-Electron trong thế xuyên tâm tĩnh điện. Để kết thúc ta trở lại phương trình (2. Phương trình này có thể dẫn đến dạng quen thuộc bằng việc xem xét trường hợp electron trong thế xuyên tâm tĩnh điện (1.48) Trong trường hợp này ta có (1.49) 18 Giới hạn hai thành phần trên của spinor , toán tử Hamiltonian tương ứng (1.50) Thành phần thứ tư ở vế phải là bổ chính tương đối tính cho thế năng. Thành phần thứ năm là bổ chính tương đối tính cho trường xuyên tâm mà ta biết Darwin term và có thể gia tốc chuyển động lắc của electron.
Thành phần cuối cùng chứa năng lượng tương tác giữa spin của electron (hoặc là mômen từ ) và mômen góc quỹ đạo. Nhận thấy rằng trong thành phần này được lấy một cách chính xác bằng thừa số 4 trong mẫu số 1. Trong trường hợp của thế Coulomb hai thành phần cuối cùng là và (1.51) Ở đây số hạng Dawin chỉ ảnh hưởng tới các s-trạng thái. Tổng kết - Bậc thấp nhất (giới hạn phi tương đối tính) phép gần đúng phi tương đối tính của phương trình Dirac sẽ dẫn đến việc chéo hóa toán tử Hamilton tự liên hợp.
Từ đây suy ra hai lý thuyết một hạt để cho hạt và phản hạt, mà trước đây nó đồng nhất cho phương trình phi tương đối tính Pauli cho hạt có spin bằng ½. - Nói chung khác với trường hợp tự do, toán tử Dirac –Hamilton là toán tử chéo chỉ là gần đúng. Điều này có thể đạt được bằng cách sử dụng phương pháp Fouldy – Wouthuyen mà trong đó toán tử Hamilton được chéo hóa thành công ở các bậc cao hơn. Đối với phần chẵn của toán tử được chéo hóa và toán tử Hamilton tự liên hợp là đúng đắn đến bậc được nghiên cứu , mà từ đây ta thu được lý thuyết một hạt để cho hạt và cho phản hạt.
1 Trong cơ học lượng tử phi tương đối tính số hạng này được giải thích cổ điển như sau: Ltrong hệ nghỉ của lực trung tâm sinh ra từ trường ở vị trí của electron và tương tác với spin của nó. Tuy nhiên, khi chuyển động không đồng nhất của electron không phải lý do xem xét thì số hạng này quá lớn và lớn hơn 2.