chương I), chế tài trong thương mại (chương IV), quản lý nhà nước về thương mại, thanh tra chuyên ngành về thương mại (chương V). Trong nền kinh tế thị trường thì sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế là cần thiết nhưng sự can thiệp ở đây là phải tạo ra khuôn khổ và môi trường pháp lý lành mạnh, triệt để sử dụng các biện pháp kinh tế, công cụ giá cả tài chính, tín dụng. để ổn định thị trường. Việc can thiệp bằng các biện pháp hành chính là rất hạn chế và được qui định cụ thể trong Luật Thương mại.
Tóm lại Luật thương mại có nguồn gốc hình thành từ Luật dân sự. Sự phát triển của hoạt động thương mại với những đặc điểm riêng biệt đã thúc đẩy quá trình “phân ngành” và hình thành một nghành luật mới độc lập với Luật dân sự - đó là Luật thương mại. Lich sử hình thành và phát triển của Luật thương mai 6 các nước có nên kinh tế thị trường chính là quá trình đấu tranh giữa các quan niệm khác nhau theo hướng không ngừng mở rộng phạm vì, đôi tượng điều chỉnh của Luật [l0ng mại. Nền kinh tế càng phát triển thì phạm vi điều chỉnh Luật thương mại càng được mở rộng.
Trong thực tế, Luật thương mại ngày càng có vai trò lấn dt Luật dân sự, xuất hiện xu hướng "thương mai héa" Luật dân sự, ranh giới giữa Luật dân sự và Luật thương mại đang dần dần bị xóa nhòa. Về Luật kinh tế Khác với Luật thương mại có lịch sử ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản khi các quan hệ thương mại đã phát triển mạnh mẽ, Luật kinh tế được hình thành ở các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ trên cơ sở hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây. Luật kinh tế trong khoa học pháp lý từ nhiều thập kỷ qua ở nước ta và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều bắt nguồn chủ yếu từ nền 10 khoa học pháp lý Xô Viết. Lịch sử hình thành và phát triển Luật kinh tế ở Liên Xô trải qua nhiều bước thăng trầm, khó khăn, bắt đầu từ cuối những năm 20 của thế kỷ này.
Giữa Luật dân sự và Luật kinh tế có sự tranh chấp rất gay gắt về vị trí, vai trò trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bắt đầu từ năm 1965, với các cuộc cải cách kinh tế được khởi xướng thì lý luận về Luật kinh tế ở Liên Xô có điều kiện và khả năng phát triển để trở thành một ngành luật độc lập. Ở các nước tư ban chủ nghĩa, không có một lý luận hoàn chỉnh về Luật kinh tế mà Luật kinh tế chỉ tổn tại dưới dạng các học thuyết riêng lẻ. Xuất phát từ sự can thiệp ngày càng tăng của nhà nước vào hoạt động kinh tế của các công ty, xí nghiệp khiến cho các quan hệ tài sản ngày càng mang tính chất quyển lực, quản lý.
Mặt khác nhiều vấn dé nay sinh giữa các cá nhân đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của các nghành luật về tư pháp, nên cần thiết phẩi có một qui chế pháp lý điều chỉnh hiệu quả các quan hệ này. Chính vì vậy nhiều học thuyết ra đời ủng hộ quan điểm xây dựng nghành Luật kinh tế nằm ở chỗ giao nhau giữa công pháp và tư pháp. Tư tưởng này phát sinh đầu tiên ở nước Đức, sau đó lan truyền sang Italia, Pháp và được phát triển thành học thuyết về Luật kinh tế tư bản chủ nghĩa. * Luật kinh tế được hình thành ở Việt Nam chủ yếu dựa trên cơ sở kế thừa những thành quả lý luận về Luật kinh tế ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông âu trước đây.
Việc hình thành Luật kinh tế ở Việt Nam có thuận lợi là không gap phải những khó khăn và chống đối lớn của các nhà khoa học pháp lý, về hành chính và dân sự cũng như không nổ ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhà khoa học về sự tổn tại độc lập của Luật kinh tế như ở Liên Xô và các nước Đông Au. Luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật kinh tế, là một nghành luật độc lập có đối tượng, phương pháp điều chỉnh và hệ thống chủ thể riêng. Luật kinh tế theo quan niệm trước đây là nghành luật điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý, lãnh đạo kinh tế của nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở xã hội chủ nghĩa. Cơ sở khoa học của việc hình thành quan niệm trên về Luật kinh tế xuất phát từ các lý do như sau: *Ts Nguyễn Văn Luyện- Về mdi quan hệ giữa Luật dân sự, Luật kinh tế, Luật thương mại.
Tạp chí nhà nước và pháp luật số 12/1999, trang 3. 11 + Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế đơn nhất với sự độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa. Trong đó chủ yếu chỉ tổn tại hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Nền kinh tế được tổ chức quản lý theo phương pháp kế hoạch hóa cao độ, hành chính quan liêu và bao cấp.
+ Nhà nước vừa là trung tâm quyền lực chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất chủ yếu. + Các quan hệ kinh tế do Luật kinh tế điều chỉnh vừa mang yếu tố tài san vừa mang yếu tố tổ chức-kế hoạch. Do đó, đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế là các quan hệ theo chiều ngang và cả các quan hệ theo chiều doc. + Chủ thể của luật kinh tế luôn luôn là những cơ quan, tổ chức kinh tế của nhà nước - là những pháp nhân.
+ Phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế là phương pháp kết hợp giữa thương lượng, bình đẳng với phương pháp hướng dẫn và hành chính mệnh lệnh. Luật kinh tế là một sản phẩm và là một bộ phận cấu thành của cơ chế kinh tế cũ, phan ánh sâu sắc bản chất của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Luật kinh tế đã phát triển cả về mặt lý luận cả về thực tiễn, trở thành công cụ để nhà nước ta quần lý nền kinh tếquốc dân. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ sở hữu đã thay đổi về bản chất với nhiều hình thức sở hữu dan xen cùng tổn tại.
Kinh tế thị trường được điều hành bởi những quan hệ trao đổi trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế (bao gồm các cá nhân và pháp nhân). Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước phải đặt trong điều kiện kinh tế thị trường với sự tách bạch 2 chức năng là quản lý hành chính nhà nước và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế bằng các biệp pháp hành chính mệnh lệnh như trước mà trở thành người tạo lập môi trường pháp lý cho các chủ thể kinh doanh, bảo đảm sự cân đối chung của nền kinh tế bằng các tác động vĩ mô có định hướng. Pháp luật là một cơ thể sống, sự tổn tại và phát triển của nó gắn lién với nhu cầu của xã hội.
Quá trình hình thành kinh tế thị trường ở nước ta là một quá trình phúc tạp, phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa kinh tế tập trung quan liêu bao cấp dang 12 từng bước bị phá vỡ nhưng chưa hoàn toàn bị xóa bỏ và mô hình kinh tế thị trường dang trong giai đoạn hình thành chưa được khẳng định vững chắc. Luật kinh tế là công cụ cải tạo cơ chế kinh tế cũ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của cơ chế kinh tế mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường khiến cho Luật kinh tế với tư cách là một bộ phận của cơ chế kinh tế cũng phải thay đổi và ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống kinh tế của đất nước. Tóm lại Luật kinh tế là một san phẩm riêng của các nước xã hội chủ nghĩa, là một bộ phận quan trọng của cơ chế kinh tế tập trung quan liệu bao cấp.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Luật kinh tế đã có sự thay đổi rất lớn để từng bước điều chỉnh hiệu quả các quan hệ kinh tế mới nảy sinh, góp phần xây dựng môi trường pháp lý ổn định và lành mạnh bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Vị trí ,vai trò của chế định hợp đồng trong Luật dân sự, Luật kinh tế và Luật thương mại 2. Vi trí, vak:rò của chế định hợp đồng trong Luật dân sự Hợp đồng là hình thức khái quát nhất của quan hệ giữa người với người, thể hiện những chuẩn mực pháp ly chi phối hành vi của các bên. Do tính chất đặc biệt quan trọng như vậy nên Luật hợp đồng thường được qui định trong BLDS của các nước.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về giao lưu dân sự thông qua hình thức hợp đồng càng tăng, chính vì vậy vai trò của hợp đồng càng trở nên quan trọng. Trước đây/trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, do sự can thiệp rất sâu của nhà nước vào mọi mặt sinh hoạt dân sự, thậm chí có lúc đã “hành chính hóa” các quan hệ dân sự. Hoạt động quản ly chủ yếu mang tính chất áp đặt chưa tạo điều kiện và môi trường cho sự phát triển của các quan hệ dân sự, khiến cho giao lưu dân sự trở nên nghèo nàn, đơn điệu.,Nguyên nhân đó một phan do sự kém phát triển của kinh tế hàng hóa; một phần do nhận thức nóng vội, chủ quan về quá trình phát triển dẫn đến thực trạng là sự can thiệp quá lớn của nhà nước vào các quan hệ hợp đồng, vi phạm nguyên tắc tự do ý chí - là nền tang chi phối toàn bộ chế định hợp đồng. Ví dụ: Việc mua bán nhà giữa các cá nhân hoàn toàn là giao dịch dân sự nhưng 13 muốn có hiệu lực thì cơ quan nhà đất phải cấp giấy chứng nhận công nhận giao dịch đó, đây là sự can thiệp không cần thiết.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ trao đổi tài sản hàng hóa đã trở về bản chất đích thực của nó là các quan hệ hàng hóa-tiền tệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý, trên cơ sở tự do giao kết, tự do thỏa thuận.