Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở ly luận về môi trường dau tư trực tiếp nước ngoài: Trình bày nội dung cơ bản của các nghiên cứu trong và ngoài nước tiễn hành trước đó về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung, môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và Thái Lan nói riêng và khái quát những lý thuyết cơ bản về môi trường đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu:Trình bay quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu và nguồn di liệu được sử dụng. Chương 3 : Nghiên cứu môi trường dau tư trực tiếp của Thai Lan : một số phát hiện và trao đổi: Trình bày và phân tích từng yếu tô của môi trường đầu tư trực tiép nước ngoài của Thái Lan, rút ra một sô bài học kinh nghiệm. Chương 4: Một số giải pháp dé cải thiện môi trường dau tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ kinh nghiệm của Thái Lan: Dựa vào phân tích môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan đã phân tích ở chương 3 và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO LY LUAN VE MOI TRUONG DAU TU TRUC TIEP NUOC NGOAI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó các nghiên cứu liên quan đến đề tài có thé chia làm hai nhóm co bản: nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước nhận đầu tư và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan. Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia đầu tiên phải ké đến là báo cáo dau tư thế giới hang năm do UNCTAD thực hiện từ năm 1991 đến nay. Đề cập đến các yếu tô quyết định của nước chủ nhà ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà dau tư thì báo cáo năm 1998 đã đề cập rõ ràng và chi tiết nhất.
Ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tu FDI có ba nhóm yếu tố chính gồm: khung chính sách về FDI, các yếu tố về kinh tế và các chính sách tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Tiếp đến, trong báo cáo năm 2010 đề cập đến thu hút FDI cho các dự án low-carbon, nhóm nghiên cứu của UNCTAD cũng dựa vào ba nhóm yếu tố chính này đề phân tích. Mashida Ishida trong nghiên cứu Attracting FDI: Experience of East Asian Countries, (2012) ” đã tìm hiểu về tình hình thu hút FDI của các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc, từ đó rút ra kinh nghiệm của từng nước. Đầu tiên, tác giả tiễn hành tìm hiểu, đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của FDI, sự khác nhau trong chính sách thu hút FDI trước và sau những năm 80 ở trong khu vực ASEAN.
Trước những năm 80, chính phủ các nước này chưa có nhiều chính sách thu hút FDI, thậm chí sự lo ngại trước sự ảnh hưởng của hàng hóa do các công ty nước ngoài sản xuất gây sức ép khiến chính phủ các nước này tiến hành bảo hộ cho thị trường nội địa. Tuy nhiên, sau những tác động tích cực mà FDI mang lại cho nước nhận đầu tư, các quốc gia này đã có những thay đổi về tầm nhìn, định hướng và tiến hành bãi bỏ các hạn chế và xây dựng các chính sách thu hút FDI phù hợp cho quốc gia mình. Nghiên cứu đã chỉ ra bài học của các nước như Malaysia, Thái Lan, Indonesia trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI, những tác động tích cực, tiêu cực ma FDI mang lại cho các quôc gia này. Tidiane Kinda (2008 - CERDI-CNRS, Université d°Auvergne)với nghiên cứu “Investment Climate and FDI in Developing Countries: Firm-Level Evidence”.
Nghiên cứu đã nhận định, FDI là nguồn vốn quan trong quyết định đến tăng trưởng của mỗi quốc gia và đặt câu hỏi “Tại sao có quốc gia lại hấp dẫn FDI, có quốc gia lai không?” Dé trả lời cho câu hỏi này, tác giả dựa trên lý thuyết chiết trung của Dunning (2000) dé xây dựng một nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến FDI, đó là ba nhóm yếu tố quyền sở hữu, địa điểm, lợi thế quốc tế hóa hay còn gọi là OLL Lý thuyết này khăng định rằng, một khi có sự hiện diện của đầy đủ các ưu thế trên, các công ty sẽ thực thi FDI.Tác giả cũng chỉ ra, trong các nghiên cứu về môi trường đầu tư trước đó thường sử dụng dữ liệu đầu tư của Trung Quốc là chủ yếu. Dé xây dựng một cái nhìn hoàn thiện hơn, tác gia sử dụng dữ liệu về các cuộc điều tra hơn 70000 doanh nghiệp ở hơn 100 nước do Ngân hàng Thế giới tiến hành. Nghiên cứu xây dựng một hàm hồi quy của biến phụ thuộc FDI trong mối quan hệ giữa các biến khác như: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thuế, các quy định về thương mại. Nghiên cứu sử dụng chính Component Analysis (PCA) và các phương pháp tiêu chuẩn hóa.Kết quả của nghiên cứu cho thấy, các yếu tô trong ba nhóm này có ảnh hưởng nhất định đến FDI.
Trong đó, cơ sở hạ tang là yếu tố có ảnh hưởng đáng ké đến việc thu hút FDI. Ngoài ra, yếu tố con người cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu của tác giả Tidiane Kinda thực sự đã đưa ra một đánh ra rất cụ thé về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong việc thu hút FDI của các nước đang phát triển. Nhờ đó, một quốc gia trong quá trình xây dựng chiến lược thu hút FDI có thể dựa vào nghiên cứu này để chú trọng vào việc phát triển những yếu tô còn yêu kém của quôc g1a mình.
Hai tác giả Alvaro Escribano và Yavuz Selim Hacihasanoglu của Đại học Carlos III de Madrid (2012) có công trình nghiên cứu “/nvestment Climate Index: Methodology and Applications” đã tiên hành xây dựng một bộ các yêu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư để xây dựng chỉ số môi trường đầu tư. Vì các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường có rất nhiều, dé gây ra hiện tượng đa công tuyến khiến cho việc phân tích trở nên khó khăn nên nghiên cứu đã lựa chọn va đưa vào bộ 5 nhóm yếu tố, gồm cả các yếu tô có tác động tích cực và các yếu tố có tác động tiêu cực đối với việc thu hút đầu tư là: nhóm 1: cơ sở hạ tang; nhom 2: nan quan liéu, tham nhũng và tội phạm; nhóm 3: tài chính và quản trị doanh nghiệp; nhóm 4: chất lượng, đổi mới và kỹ năng lao động, nhóm 5: các biến số khác. Bên cạnh đó, tac giả cũng tiến hành so sánh với phương pháp GSAP thường được sử dụng trước đó dé đánh giá môi trường đầu tư. Kết quả cho thấy, hai phương pháp cho kết quả tương đương nhau.Phương pháp ma Alvaro Escribano va Yavuz Selim Hacihasanoglu da xây dựng khái quát hon và khắc phục được những điểm yếu của GSAP.
Luận án tiến sĩ của Yavuz Selim Hacihasanoglu (10/2013) nghiên cứu về “Essays on Investment Climate in Developing Countries” đã đề cập rat chi tiết về ảnh hưởng của môi trường đầu tu đến sự tăng trưởng ở các nước dang phát trién. Tác giả sử dụng phương pháp do Escribano và Hacihasanoglu (2012 và 2013) xây dựng và sử dụng dữ liệu của 27.624 doanh nghiệp ở 113 nước đang phát triển để xây dựng bộ chỉ số môi trường đầu tư (Investment Climate Index). Phương pháp này khắc phục được hiện tượng đa cộng tuyến và có ý nghĩa trong việc làm cơ sở dé so sánh các quốc gia với nhau. Các công trình nghiên cứu môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan Nghiên cứu về môi trường đầu tư FDI của Thái Lan, công trình nghiên cứu “Foreign Direct Investment: Performance and Attraction — The case of Thailand, (08/2002)” của Peter Brimble đã tập trung cụ thê vào van dé chuyên giao công nghệ trong quá trình thu hút FDI của Thái Lan.
Nghiên cứu tiễn hành xem xét tác động tổng thể của FDI, nghiên cứu môi trường vĩ mô của Thái Lan. Tác giả tông hợp và rút ra các bài học kinh nghiệm của Thái Lan, đưa ra khuyến nghị về chiến lược thu hút FDI cho các quốc gia khác. Về vấn đề chính trị của Thái Lan, tác giả Jean Dautrey đã đề cập sâu đến trong nghiên cứu “Foreign Direct Investment and Thailand s Color-coded Politics: The Thai Paradox - Will it Endure?” Tac gia tập trung phan tích tình hình chính tri ở Thái Lan, xem xét tác động từ những bat ôn chính tri cua Thái Lan đối với kinh tế của nước này, trong đó có ảnh hưởng đến việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của Thái Lan trong bối cảnh cạnh tranh nguồn vốn gay gắt với các quốc gia khác như thê nào. Tac giả Abdullah Kaid Al-Swidi của School of Quantitative Science, College of Arts and Sciences, University Utara Malaysia trong nghiên cứu “Some Reflections on Foreign Direct Investment Flows and the Viet Nam’s Economy” da xem xét các xu hướng, mô hình đầu tư trực tiếp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2011 trong bối cảnh ASEAN.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã phân tích các thông số và đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam, đưa các chính sách thu hút FDI tương lai. Trong nghiên cứu của ISHIDA, Masami (2010) “Comparing Investment Climates among Major Cities in CLMV Countries”, BRC Research Report No.4, BangkokResearch Center, IDE-JETRO, Bangkok, Thailand, đã có những trình bày nhất định về môi trường đầu tư của nhóm bốn nước kém phát triển nhất trong khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Các yếu tố được đề cập đến khi nghiên cứu về môi trường đầu tư ở các nước ngày gồm có: bối cảnh vĩ mô và thị trường nội dia, sử dụng đất và sở hữu đất, thị trường tài chính, thương mại, quản lý, cơ sở hạ tầng, lao động, truyền thông. Nghiên cứu này đã tiến hành so sánh một số yếu tô cơ bản anh hưởng đến quá trình tiến hành kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài khi mới vào các nước CLMV và cũng có so sánh giữa hai nước Thái Lan và Indonesia theo các tiêu chí ma Doing Business đưa ra.
Tuy nhiên, những so sánh mà nghiên cứu chỉ ra van còn nhiêu hạn chê và chỉ mang tính khái quát. Báo cáo số 44248-TH - Thailand Investment Climate Assessment Update của World Bank đã thống kê và phân tích tình hình môi trường đầu tư của Thái Lan trên các yếu tố về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ.