mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tai liệu tham khảo, CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE MOI QUAN HE VAT CHAT VA Ý THỨC TRONG HOAT DONG THUC TIEN. NHÂN TO VAT CHAT VA NHÂN TỔ Ý THUC TRONG HOAT ĐỘ THUC TIEN CUA CON NGƯỜI: LLLNhén tổ vật chất là gì ?: Để tan tại được. con người phải lao động sản xuất, phải tác động vào giới tự nhiên. Để cho hoạt đông san xuất có hiệu qua, con người bắt đầu tìm hiểu giới tự nhiẻn.
Từ thực tiễn đó, ngay từ thời cổ dai đã có những quan điểm duy vật thô sơ cho rằng thể giới là vat chất, nó tổn tai khách quan không phục thuộc vào ý thức của con người. Chẳng những khẳng định thế giới tổn tại khách quan, quan điểm này còn tiểm hiểu thé giới được cấu tao như thé nào, cái gì là cơ sở của các hiện tượng muôn màu muôn vẻ của hiện thực khách quan. Voi trình độ tư duy còn ấu trĩ, hấu hết các nhà duy vật cổ đại có khuynh hướng cho rằng cơ sở vật chất của thế gioi là một số chất cụ thể và xem đó 1A đơn vị cuối cùng để tạo ra thể giới, những vật cụ thể đó là: nước, lửa, chất khi, đất, nguyên tử, khối lượng, vật thể. là những điều kiện tạo ra thể giới.
Với sự giải thích đó, ngay trong thời cổ đai đã có những quan niện khác nhau về phạm tri vật chất, Mac dù cách giải thích đó còn mộc mạc và thiếu sót, song về cơ bản mang tính duy vật. Vì đã giải thích tự nhiên bằng bản thân giới tư nhiên, mà không cẩn đến tỉnh thin và thương để, Một han chế nữa của thời kỳ này là những quan điểm vẻ thế giới vật chất đã không đồng nhất với nhau, Bal BRN Nel OL-NGHIEP ER pier mums G VHDENG U CHUONG NHIÊP, YEN dau từ cudi thé kỷ 19 trả đi voi cuộc cách mang trong khoa học tự nhiên đã chuyển sự giải thích vẻ phạm tra vật chất sang một hướng mới khoa học hon. Cùng voi sự phát triển của cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, đến lược minh Lénin đã phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình thuyết không thể biết về vật chất, bảo vé và phat triển quan niệm duy vật biện chứng của C. Mác và Ang-ghen về vật chất và đưa ra định nghĩa nổi tiếng, hoàn chỉnh về phạm trù vật chất trong tác phẩm : “ Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”; “ Vật chất là phạm tra triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tổn tai không lệ thuộc vào cảm giác" [13,151].
Như vậy, theo Lênin vật chất là một phạm trù khái quát dùng để chỉ thuộc tính chung của mọi sự vật là ton tại khách quan, độc lập với ý thức của con người. Người chỉ ra rằng, thé giới vật chất tổn tại đưới dạng các su vật, hiện tượng cụ thể rất phong phú và đa dang, song chúng déu có chung một thuộc tinh là tổn tai khách quan, ở ngoài và độc lập với ý thức của con người. Tuy nhiên , nói nhuf vậy không có nghĩa là cái gì hé tổn tại bên ngoài ý thức va tác động trực tiếp lên các giác quan của con người thì cdi dé mới là vật chất. Bên cach dé, trong hoạt động thực tiễn có rất nhiều biểu hiện của vật chất mà con người chỉ nhận biết được, thông qua hoạt động cải tao thế giới vật chat.
Như vậy là khi xét đến phạm trù vật chất thì không được đồng nhất nó voi những dang vật thể. Chẳng han như các quan hệ sản xuất là có tinh vật chất mặc dù trong chúng không hé có một nguyên tử vật chất nào. Hoặc các quy luật của đời sống kinh tế - xã hội thực chất là những quy luật có tinh vat chất mặc dù bản thin chúng không phải là vải thể. Sở dĩ khẳng định được như vậy là bởi vì chúng tốn tại khách quan, khẳng nhị thuộc vào ý chi, nguyện vọng của con ngươi, Qua định nghĩa và sự giải thích theo quan điểm của duy vật biện chứng, Lénin khẳng định thuộc tính chung nhất của vat chất là sự tổn tại khách quan J vùử//Hệt JÀ[€T6Y1NE]IEIIERVIL/2ẶT ‹;c sống SE v bén ngoài ý thức của con người, Tất cả những gi tổn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức của con người và cả loài người đều thuộc phạm trù vật chất, Lénin chỉ rõ: đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật thừa nhận là cái đặc tính tổn tại với tư cách là thực tại khách quan, tổn tại ở ngoài ý thức của con người và loài người.
Như vay, với quan điểm duy vật biện chứng về vật chất và thuộc tính tổn tại khách quan của nó. Con người trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình không thể bằng ý thức mà sản sinh các đối tượng vật chất, mà con người chỉ có thể cải biến thể giới vật chất theo những thuộc tính, những quy luật vốn có của nó, - Ở đây, chúng ta đang nói về vấn để con người muốn cải tạo giới tự nhiên để phục vụ cho nhu cẩu tổn tại của mình. Những kết luận về thuộc tính tổn tại khách quan của vat chất đã được kiểm nghiệm bởi chính cuộc sống hiện thực của con người và nó trở thành cơ sở cho hoạt động của con người. Ma xã hội loài người là cấp độ cao nhất của cấu tạo vật chất, là cấp độ đặc biệt của tổ chức vật chất, Do đó, trong hoạt động xã hội của con người nhân tố vật chất chính là toàn bộ hoạt động vật chất của xã hội với những điều kiện, hoàn cảnh vật chất nhất định, hình thức hoạt động vat chất nhất định và các quy luật khách quan vốn có của nó.
Như vây, trong hoạt động thực tiễn của con người, hiện thực khách quan với tư cách là nhãn 16 vặt chất, không đơn thuần chỉ là thế giới vật chất nói chung mà là tất cả những hoàn cảnh xung quanh ( Bao gỗm cả hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội ), các diéu kiện vật chất, phương tiện vật chất. cùng với các quy luật vốn có của chúng đã chỉ phối hoạt động thực tiễn có mục đích của con người. Nếu như tinh đến hoạt động thực tiễn của đất nước ta trong giai đoạn làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì hoàn cảnh khách quan là: Nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hau, vừa thoát khỏi chiến tranh tan phá. Và muôn làm thành công cuộc cách mạng đổi hỏi phải có điều kiện khách quan đó là: khi K=+'J'0šE- !MG{011/šf01831621E/vấk: quản chúng bi dp bức và không thể sống như cũ được nửa, bon thông trị cũng không thể tiếp tue cái trị theo lỗi cũ nửa, tầng lớp trung gián đã ngã về phía cách mang, giải cap công nhân đã giấc ngõ cách mang và có chính Đảng của mình để lãnh dao phong trào cách mang.
Đây chính là những điều kiện khách quan va cũng là thời co đã chính mudi để thực hiện thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong giải đoạn này để đưa đất nước đi lên thì quy luật khách quan là phải phát triển cơ sở vật chất mà trong đó quan hệ vật chất muốn phát triển phải phù hựp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Cũng giống như hạt giống roi vào mảnh đất thích bup có đủ diéu kiên nhiệt độ, độ ẩm. thì nhất định sẽ phát inén thành cảy con.
Điều đó cũng tương tự như, muốn cải tạo thế giới vật chất, phải có lực lượng vật chất: muốn có thóc Jn phải cày ruộng, gieo hạt, gat lúa; muốn có xã hội tốt đẹp phải đứng lên làm cuộc cách mang, xóa bỏ lực lượng phản cách mang, xảy dưng cuốc sống mới. Đó là những hoàn cảnh, điểu kiên, quy luật nằm trong nhân t6 vat chất nó không hé phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Sau khi đã phản tích va đưa ra những dẫn chứng về tính tổn tại khách quan vủa nhân tố vat chất. Chủ nghĩa duy vất biện chứng đã mit ra phương pháp luận quan trọng: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở cho mọi hoại động của mình.
Chính vì vậy trong qúa trình lãnh đạo cách mang, những mục đích, chủ trương, đường lỗi mà Đảng để ra đều xuất phát từ hiện thực khách quan, phan ánh nhu cẩu chính mii và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Chỉ những mục tiêu, chủ trương dé ra thông qua việc phan ánh đúng đắn thể giới khách quan mới có khả năng thực hiện. Ngược lai, nếu chỉ xuất phat Se 3(€†Ø*INEEISWEIE3?+k.:Yêt “—- eer ae l0. - Tóm lại, thé giới vật chất tổn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Con người khi hành động theo mục đích của mình phải xuất phat va căn cứ vào thé giới khách quan. Trong nhân thức, con người càng phản ánh day đủ và đúng đắn thể giới khách quan bao nhiều thì việc cải tạo thé giới ấy sẽ dat hiệu qủa theo nhu cầu của mình bấy nhiêu.3 Nhân tổ ý thức là gỉ ?: Vấn để mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn để cơ bản của triết học. Do đó, cũng như vật chất, ý thức là phạm trù co bản và hết sức phức tap của triết học. Ý thức là gì ? Nó xuất hiện như thế nàn ? Có vai trò gì ? Đó là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn, mà ngay từ khi xuất hiện nó là trân dia đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩu duy tâm.
Trước khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất, kết cấu, vai trò của ý thức. Mãi đến khi triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, vấn để ý thức mới được giải quyết một cách khua hoc. Khi giải thích sự xuất hiện của ý thức, chủ nghĩa duy tắm cho rằng tỉnh thắn là sự thể hiện của linh hẳn - một thực thể phi vật chất nào đó. Họ đã tuyệt đối hóa những hoạt động tình than đến mức coi ý thức là một thực thể siêu tự nhiên, tổn tại độc lập không can đến vat chất, và sinh ra vật chất mà không thấy được rằng đó là hoạt dong của chính họ.