Chương 1: Phần tổng quan Giới thiệu tổng quan lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Nêu phạm vi và số liệu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu nội dung của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương này trình bày tổng quan về khung lý thuyết và các lý thuyết liên quan đến tỷ giá và CCTM, các kết quả nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của các tác giả trước, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu – mô hình nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Mô tả các biến quan sát, cách tính, đo lường, kỳ vọng dấu, các lý thuyết kinh tế lượng liên quan đến nghiên cứu. 5 Chương 4 Phân tích kết quả Tiếp theo đề tài tập trung phân tích tình hình cán cân thương mại của Viêt Nam thời gian qua, sự biến động của tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực và tác động đến CCTM. Bên cạnh đó thông qua việc sử dụng phần mềm Eview để phân tích kết quả và các kiểm định liên quan như kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết để đánh giá tác động của tỷ giá đến CCTM trong ngắn hạn và dài hạn. Chương 5: Kết luận – Kiến Nghị Từ kết quả thu được của mô hình, đề tài rút ra các gợi ý chính sách cần ưu tiên thực hiện để việc điều hành tỷ giá đạt được các mục tiêu kỳ vọng và hạn chế các tác động tiêu cực đến nền kinh tế, nâng cao lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan về khung lý thuyết và các lý thuyết liên quan đến tỷ giá và CCTM, các kết quả nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của các tác giả trước, từ đó xem xét lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài.1 Các khái niệm về tỷ giá (Exchange Rate) 2.1 Khái niệm tỷ giá Theo Paul Anthony Samuelson, tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi lấy tiền của một nước khác. Với Slatyer, tỷ giá là một đồng tiền của một quốc gia nào đó bằng giá trị của một số lượng tiền của một quốc gia khác (trích bởi Hoàng Thị Chỉnh, Nguyễn Phú Tụ, Nguyễn Hữu Lộc, 2005). Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh từ các hoạt động liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại.
Hoặc, một cách tổng quát “tỷ giá hối đoái” là giá của một đồng tiền được biểu thị bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác. Theo Luật Ngân hàng Nhà nuớc năm 2010, “tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”. Trong phạm vi đề tài “tỷ giá hối doái”, “tỷ giá” được sử dụng với cùng một nội dung đó là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng đồng nội tệ.2 Các loại tỷ giá Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2012) tỷ giá được bao gồm các khái niệm sau: 7 2.1 Tỷ giá danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) Là tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối giữa hai đồng tiền. Hay, tỷ giá danh nghĩa là giá cả của một đồng tiền đuợc biểu thị thông qua đồng tiền khác.2 Tỷ giá danh nghĩa song phương - (Nominal Bilateral Exchange Rate) Tỷ giá của hai đồng tiền bất kỳ được gọi là tỷ giá song phương.
Sự thay đổi của tỷ giá song phương thể hiện sự lên hoặc xuống giá của đồng tiền này so với đồng tiền kia. Khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn, nên gọi là lên giá (appreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được ít đồng yết giá hơn, nên gọi là giảm giá (depreciation). Khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá sẽ đổi được ít đồng tiền định giá hơn, nên gọi là giảm giá (depreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được nhiều đồng yết giá hơn, nên gọi là lên giá (appreciation). Trên thị trường hối đoái, giá trị của một đồng tiền được đo lường bằng nhiều lượng đồng tiền khác.
Nói cách khác, tại cùng một thời điểm, trong cùng một thị trường, luôn tồn tại nhiều tỷ giá song phương của một đồng tiền với nhiều đồng tiền khác. Trên Thế giới có trên 170 đồng tiền, nếu sử dụng trên 170 tỷ giá song phương để tính giá trị của một đồng tiền thì quá phức tạp và không cần thiết. Ðể giải quyết vấn đề này, các nhà kinh tế đã tìm ra một giải pháp hữu hiệu, đó là tỷ giá đa phương (tỷ giá trung bình).3 Tỷ giá đa phương - Effective Exchange Rate: Cách xác định tỷ giá đa phương (tỷ giá trung bình) tương tự cách tính chỉ số giá trung bình. Nếu chỉ số giá trung bình phản ảnh sự thay đổi mặt bằng giá cả chung và được tính dựa vào sự biến động giá của một rổ hàng hoá chuẩn; thì tỷ giá đa phương được tính dựa vào sự thay đổi giá trị của một đồng tiền so với một rổ đồng tiền chuẩn.
Thông thường tỷ giá đa phương được xác định dựa trên tỷ giá danh nghĩa song phương được gọi là tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) 8 2.4 Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate – NEER) là tỷ giá phản ánh giá trị trung bình của một đồng tiền so với hai hay nhiều đồng tiền khác. Xác định NEER dựa trên tỷ trọng thương mại giữa một nước với nhóm các nước có đồng tiền tham gia trong rổ.5 Tỷ giá thực (Real Exchange Rate) Tỷ giá thực đo luờng giá cả tương quan của hàng hoá giữa hai quốc gia. Tỷ giá thực được xác định bằng cách so sánh giá quốc tế của hàng hoá đuợc tính bằng đồng tiền yết giá với giá trong nuớc của hàng hoá được tính bằng đồng tiền định giá. Tương quan giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa được biểu diễn bằng công thức sau: ER= E* P*/ P Trong đó, - ER: tỷ giá thực (dạng chỉ số).
- E: tỷ giá danh nghĩa. - P*: Mức giá nước ngoài bằng ngoại tệ. - P: Mức giá trong nước bằng nội tệ.6 Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate – REER) được xác định bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước có đồng tiền tham gia trong rổ, do đó nó là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp. Khi REER lớn hơn 100 đồng nội tệ bị định giá thấp, ngược lại REER nhỏ hơn 100 đồng nội tệ bị định giá cao và REER bằng 100 đồng nội tệ có ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ.3 Các chế độ tỷ giá Theo Lê Phan Thị Diệu Thảo (2011), IMF phân chính sách tỷ giá của các quốc gia thành 7 loại.
Một là, Liên minh tiền tệ (Monetary Union). Đây là một khu vực sử dụng một đồng tiền chung, một chính sách tiền tệ và tài khóa chung. Liên minh này lập ra ngân hàng trung ương chung để quản lý dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài và chính sách tỷ giá. Giải quyết được các vấn đề nêu trên sẽ góp phần giảm thiểu mâu thuẫn trong chính sách tiền tệ giữa các nước thông qua các thỏa thuận đa phương trong liên minh, giúp các nước thành viên tránh được các cú sốc khi gặp sự mất ổn định.
Liên minh tiền tệ châu Âu là một ví dụ điển hình về chế độ tỷ giá này. Hai là, Đôla hóa (Dollarization/Eroization). Đô la hóa là chế độ tỷ giá mà một quốc gia sử dụng đồng ngoại tệ là đồng tiền chính thức trong các giao dịch kinh tế của mình. Ba là, Hội đồng tiền tệ (Currency Board).
Đây là chế độ tỷ giá được áp dụng để giải quyết vấn đề tín nhiệm đối với bên ngoài thông qua những thỏa thuận ràng buộc như gắn cố định đồng tiền nước mình với một đồng ngoại tệ, tự do chuyển đổi giữa hai đồng tiền và cam kết thực hiện trong dài hạn. Hội đồng tiền tệ giúp giảm bớt sự biến động của tỷ giá thực. Để thực hiện chế độ này cần có lượng dữ trữ ngoại hối đủ mạnh để thực hiện các cam kết nêu trên. Bốn là, Chế độ tỷ giá cố định (Fixed Peg).
Trong chế độ tỷ giá được Chính phủ tuyên bố sẽ duy trì không thay đổi giữa nội tệ với ngoại tệ nào đó hoặc với một rổ các tiền tệ nào đó hoặc duy trì một tỷ giá trung tâm trong một biên độ hẹp đã được định trước. Như vậy, trong chế độ tỷ giá này, NHTW phải mua vào hay bán ra ngoại tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá cố định. Để làm được điều này, NHTW phải luôn có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối cần thiết để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối. 10 Năm là chế độ tỷ giá bò trườn (Crawling Peg) được xây dựng dựa trên nguyên tắc thay đổi tỷ giá trung bình căn cứ vào lạm phát hay một tỷ lệ nhất định trước đó.
Chế độ tỷ giá này kết hợp giữa tỷ giá thả nổi và cố định, áp dụng cho các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao. Sáu là Chế độ tỷ giá dao động trong một biên độ (Bands) là chế độ cho phép tỷ giá biến đổi trong một biên độ cho phép. NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá vượt ra khỏi biên độ này. Bảy là Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (Managed Float) tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng mục tiêu nhất định, nhưng NHTW không can thiệp duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm.
Vùng mục tiêu được xác định thay đổi ở những mức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và trạng thái nền kinh tế trong những thời kỳ khác nhau. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá trung gian giữa chế độ tỷ giá cố định với chế độ tỷ giá thả nổi, trong đó tỷ giá hối đoái cần phải có khả năng phản ánh được những biến động thường xuyên và đột ngột của các nhân tố ngắn hạn để duy trì được khả năng ổn định trong dài hạn.