phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 phần chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Kiệt sức nghề nghiệp 1.1 Khái niệm KSNN Thuật ngữ kiệt sức lần đầu tiên đƣợc đặt ra bởi nhà lâm sàng Freudenberguer (1975) để mô tả tình trạng kiệt sức và kiệt sức về cảm xúc mà ông đã chứng kiến ở những ngƣời tình nguyện làm việc tại một phòng khám sức khỏe miễn phí. Ông nhận thấy rằng những cảm giác này phát triển theo thời gian và thƣờng đi kèm với các triệu chứng thể lý và tâm lý khác nhau, bao gồm buồn nôn, đau đầu, khó ngủ, giảm giao tiếp, trầm mặc, mệt mỏi, chán nản, cáu gắt, thay đổi cảm xúc đột ngột (Freudenberguer, 1975). Cùng giai đoạn này, nhà tâm lý học lâm sàng Christina Maslach cùng với các cộng sự đã tiến hành nghiên quan sát, phỏng vấn trên 200 chuyên gia trong các ngành nghề với dịch vụ con ngƣời nhằm mục đích tìm hiểu xu hƣớng ứng phó của họ với những căng thẳng trong công việc.
Nghiên cứu cho thấy rằng những ngƣời này có xu hƣớng đối phó với căng thẳng bằng cách né tránh, tạo khoảng cách, điều này không chỉ gây hại cho bản thân ngƣời lao động mà còn gây tổn hại đến khách hàng của họ (Maslach, 1976). Những nghiên cứu đầu tiên của Maslach và cộng sự ở thời điểm này đã cho thấy sự phổ biến của hội chứng KSNN ở ngƣời lao động, những cách ứng phó thƣờng gặp và tầm quan trọng của việc ngƣời lao động đƣợc đào tạo về kiến thức và các kĩ năng để phòng ngừa và ứng phó với tình trạng kiệt sức. Quay lại với định nghĩa kiệt sức, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ kiệt sức. Tuy nhiên, các định nghĩa đƣợc đề xuất thiếu mô hình lý thuyết và các tiêu chuẩn dựa trên các nghiên cứu sâu rộng.
Nhiều nghiên cứu định tính cũng nhƣ các cuộc tranh luận liên quan đến việc thiết lập một định nghĩa chung về mặt khoa học cho thuật ngữ “kiệt sức”. Sau một loạt các nghiên cứu định tính, các cuộc phỏng vấn, khảo sát đƣợc tiến hành. Một hệ thống dữ liệu về các nhân tố liên quan đến kiệt sức đƣợc hình thành. Các nhân tố nổi bật liên quan đến kiệt sức 7 đƣợc lấy ra từ các nghiên cứu định tính đƣợc sử dụng để tiếp tục phân tích trong các nghiên cứu định lƣợng nhằm xác định những khía cạnh chính tạo nên thành phần của kiệt sức (Maslach và cộng sự, 2009).
Nghiên cứu của Maslach và cộng sự (2009) đã cho ra một định nghĩa rõ ràng về kiệt sức đƣợc mô tả là “Kiệt sức là một hội chứng tâm lý nhằm đáp ứng lại các yếu tố gây căng thẳng giữa các cá nhân trong công việc. Ba thành tố chủ chốt của đáp ứng này là suy kiệt cảm xúc, cảm giác hoài nghi và suy giảm thành tích cá nhân” (tr. Trong sách The cost of caring, Maslach và cộng sự (2003) đƣa ra nhận định về kiệt sức đƣợc mô tả nhƣ là “một hội chứng của suy kiệt cảm xúc, phi nhân hóa và suy giảm thành tích cá nhân xảy ra ở một số cá nhân làm công việc với con ngƣời. Đó đƣợc xem nhƣ phản ứng của sự căng thẳng cảm xúc khi giao tiếp với ngƣời khác, đặc biệt là khi cá nhân đó gặp vấn đề” (tr.
Tác giả cũng cho rằng điểm khác biệt của hội chứng kiệt sức này so với những phản ứng căng thẳng khác là những căng thẳng này phát sinh từ sự tƣơng tác giữa ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời nhận dịch vụ, hay nói cách khác là ngƣời lao động và đối tƣợng làm việc chính của họ (Maslach và Zimbardo, 2003). Trong một nghiên cứu tổng quan về kiệt sức nghề nghiệp, Lubbadeh (2020) đƣa ra kết luận “kiệt sức trong công việc có thể đƣợc mô tả là một chứng rối loạn ở tiềm thức do căng thẳng tích tụ từ công việc và có thể kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực cho nhân viên và tổ chức” (tr. Theo từ điển ICD-11, kiệt sức đƣợc định nghĩa nhƣ là “một hội chứng đƣợc khái niệm hóa do căng thẳng mãn tính tại nơi làm việc không đƣợc kiểm soát thành công. Nó đƣợc đặc trƣng bởi ba chiều: cảm giác cạn kiệt năng lƣợng; gia tăng khoảng cách về mặt tinh thần trong công việc của một ngƣời, hoặc cảm giác tiêu cực hoặc hoài nghi liên quan đến công việc của một ngƣời; và giảm hiệu quả nghề nghiệp.
Kiệt sức đề cập cụ thể đến các hiện tƣợng trong bối cảnh nghề nghiệp và không nên áp dụng để mô tả các trải nghiệm trong các lĩnh vực khác của cuộc sống” (“ICD-11 for Mortality 8 and Morbidity Statistics”, n.) Các tác giả Pines và Aronson cho rằng kiệt sức là một trải nghiệm về trạng thái suy kiệt về thể chất, cảm xúc và tinh thần (Pines và Nunes, 2003). Shirom (1989) nhấn mạnh rằng sự mệt mỏi và suy kiệt nên đƣợc coi là đặc điểm trung tâm của khái niệm: ''Cụ thể, tình trạng kiệt sức đề cập đến sự kết hợp của mệt mỏi về thể chất, kiệt quệ về cảm xúc và mệt mỏi về nhận thức'' (tr. Có thể thấy, kiệt sức hiện nay đã trở thành một đề tài đƣợc nghiên cứu sâu rộng trên thế giới. Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chọn khái niệm KSNN dựa trên lý thuyết của Maslach và cộng sự (2009) “Kiệt sức là một hội chứng tâm lý nhằm đáp ứng lại các yếu tố gây căng thẳng giữa các cá nhân trong công việc.
Ba thành tố chủ chốt của đáp ứng này là suy kiệt cảm xúc, cảm giác hoài nghi, và suy giảm thành tích cá nhân” (tr.2 Cấu trúc thành phần của KSNN Nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện nhằm phát triển các thang đo khác nhau để đo lƣờng mức độ kiệt sức ở ngƣời lao động. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi xin phép trình bày một số thang đo tƣợng trƣng cho khác biệt trong sự phân chia cấu trúc thành phần của KSNN ở các tác giả và các giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Thang đo Oldenburg Burnout Inventory đƣợc Demerouti và cộng sự phát triển và đƣa ra cấu trúc ban đầu vào năm 2002 (Halbesleben và Demerouti, 2005). Thang đo Oldenburg Burnout Inventory đƣợc xây dựng để đo lƣờng kiệt sức trong các nhóm nghề nghiệp khác nhau (Demerouti và Nachreiner, 1998) cùng với thời điểm thang đo Maslach Burnout Inventory – General Survey (MBI-GS) đƣợc phát triển (Demerouti và cộng sự, 2001).
Thang đo Oldenburg Burnout Inventory có hai tiểu mục bao gồm kiệt sức và sự thờ ơ (với công việc) (Kováč và Halamová, 2022). Trong đó, kiệt sức đƣợc định nghĩa là hậu quả của sự căng thẳng nặng nề về thể chất, tình cảm và nhận thức, ví dụ nhƣ hậu quả của sự tiếp xúc lâu dài với những căng thẳng trong công việc 9 (Demerouti và cộng sự, 2001). Thờ ơ liên quan đến mối quan hệ giữa nhân viên với công việc của họ, đặc biệt là sự tham gia và định danh với công việc (Demerouti và cộng sự, 2001). Tiểu thang kiệt sức bao gồm bảy mục đề cập đến cảm giác trống rỗng, làm việc quá sức, tình trạng kiệt quệ về thể chất.
Tám mục của tiểu thang thờ ơ đề cập đến tách rời bản thân với công việc và thái độ, hành vi tiêu cực của nhân viên với công việc của họ (Demerouti và cộng sự, 2001). Copenhagen Burnout Inventory gồm 19 mục chia thành ba thang đo riêng biệt để đo lƣờng kiệt sức ở các lĩnh vực khác nhau. Ba thang đo bao gồm sự kiệt sức cá nhân, sự kiệt sức liên quan đến công việc và sự kiệt sức liên quan đến khách hàng. Trong Copenhagen Burnout Inventory, cốt lõi của sự kiệt sức là mệt mỏi và suy kiệt (Kristensen và cộng sự, 2005).
Năm 2006, Shirom và Melamed đã phát triển thang đo kiệt sức Shirom- Melamed (SMBM) dựa trên học thuyết Hobfoll’s Conservation of Resources (SMBM; Shirom và Melamed, 2006). Thang đo đƣợc sử dụng để đánh giá tình trạng kiệt sức là sự cạn kiệt các nguồn năng lƣợng. Tuy nhiên, việc giảm cấu trúc câu hỏi trong kiệt sức thành cấu trúc một chiều đã bị một số nhà nghiên cứu cực kỳ phản đối (ví dụ: Maslach, Schaufeli, và Leiter, 2001; Maslach và cộng sự, 2009; Schaufeli và Taris, 2005). The Burnout Measure (BM; Pines và Aronson, 1988) đƣợc phát triển bởi Pines and Aronson để đo lƣờng ba khía cạnh của kiệt sức dựa trên lý thuyết của họ bao gồm: kiệt quệ về cảm xúc (7 mục), kiệt quệ về thể chất (7 mục) và kiệt quệ về tinh thần (7 mục).
Các giáo viên đƣợc yêu cầu đánh giá tần suất họ trải qua những cảm giác đƣợc mô tả trong 21 mục trong 4 đến 6 tuần qua bằng cách sử dụng thang điểm 7, từ 0 (không bao giờ) đến 6 (hàng ngày). Điểm số đƣợc đảo ngƣợc khi cần thiết để điểm số cao hơn cho thấy mức độ kiệt sức cao (Platsidou và Daniilidou, 2016). Phiên bản rút gọn 10 mục của BM (BMS) đƣợc phát triển trong bài báo “Thang đo kiệt sức, phiên bản rút gọn” để đáp ứng nhu cầu của các nhà nghiên cứu và các học viên về một công cụ dễ sử dụng, đòi hỏi ít câu hỏi hơn và ít thời gian hơn thuận tiện cho việc thu thập và 10 xử lý dữ liệu (Malach-Pines, A. Tuy nhiên, hai tác giả Shirom và Ezrachi (2003) cho rằng cấu trúc Burnout Measure là đa chiều với các thành phần cấu thành tƣơng quan không hoàn hảo.
Burnout Measure không đủ để phân biệt tình trạng kiệt sức với các trạng thái tâm lý có liên quan nhƣng khác biệt, điển hình là lo lắng và trầm cảm (Shirom và Ezrachi, 2003). Các mục của Burnout Measure không đƣợc thiết kế cho một số nhóm nghề nghiệp nhất định. Kết quả là, cách diễn đạt của các câu hỏi quá chung chung, khó để phân biệt các thành tố mà thang muốn đo lƣờng với các cấu trúc tƣơng tự nhƣ mệt mỏi hoặc suy nhƣợc. Nghiên cứu kết luận rằng Burnout Measure chỉ nắm bắt đƣợc một khía cạnh cụ thể của tình trạng kiệt sức hay đúng hơn là thƣớc đo sức khỏe nói chung (Enzmann và cộng sự, 1998).
Thang đo Maslach Burnout Inventory (MBI; Maslach và Jackson, 1981) đƣợc xem là một công cụ đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhất để đánh giá tình trạng kiệt sức trong công việc. Maslach Burnout Inventory đƣợc phát triển lần đầu tiên vào đầu những năm 1980, ba tiểu mục của thang đo dùng để đo lƣờng ba thành phần của kiệt sức bao gồm: suy kiệt cảm xúc (Emotional Exhaustion) hay suy kiệt (Exhaustion), phi nhân hóa (Depersonalization) hay hoài nghi (Cynicism) và suy giảm thành tích cá nhân (Professional Accomplishment) hay hiệu quả công việc (Professional Efficacy) (Maslach và Jackson, 1981).