MỞ ĐẦU 1.TÍNH CAP THIET CUA DE TÀI Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế như hiện nay đã dẫn tới một hệ quả đương nhiên là các mối quan hệ xã hội đa dạng hơn, phức tạp hơn, trong đó có các mối quan hệ hôn nhân và gia đình và các mối quan hệ ngoài gia đình nhưng chủ thể tham gia là thành viên trong gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phần nào điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ này. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành chỉ mới tập trung điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các chủ thé là thành viên của gia đình với nhau một cách độc lập mà ít quan tâm và chưa đặt các quan hệ hôn nhân và gia đình trong mối quan hệ tông thể với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác dé điều chỉnh nhóm quan hệ giữa một bên chủ thé là thành viên gia đình và người thứ ba trong các quan hệ thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặt khác, các văn bản pháp luật khác về dân sự, thương mại, doanh nghiệp.khi điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuộc ngành luật của mình cũng ít có mối liên hệ với pháp luật Hôn nhân và gia đình khi chủ thể của các quan hệ đó đang là thành viên trong gia đình.
Mẫu chốt của vẫn đề chính là ở chỗ khi áp dụng pháp luật điều chỉnh những quan hệ pháp luật cụ thể xảy ra trong thực tế sẽ không tránh khỏi những xung đột về mặt pháp lý, cũng như những xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể trong chính mối quan hệ đó và các chủ thé có liên quan mật thiết với họ từ quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình. Chính điều này đã có tác động, không chỉ hạn chế hiệu quả điều chỉnh của pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong tổng thể các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, việc đặt Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ở vị trí trung tâm, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác để nghiên cứu, tìm hiểu những điểm tương thích, khác biệt cũng như những vướng mắc, bất cập trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ giữa thành viên trong gia đình với người thứ ba trong các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện nay. Việc nghiên cứu này không loại trừ tham vọng xây dựng được một khung pháp lý về Hôn nhân và gia đình mang một diện mạo hoàn toàn mới, có tính tương thích với các văn bản pháp luật khác, đồng thời, trong một chừng mực nhất định, có thể định hướng cho việc sửa đổi, bổ sung những quy định mới trong từng văn bản pháp luật cụ thé cũng có tính tương thích và có mối liên hệ biện chứng, thống nhất với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 phù hợp với xu hướng vận động của xã hội, nhằm mục tiêu đảm bảo sự kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội.
Với tất ca các lý do trên, chúng tôi cho rằng việc lựa chọn dé tài “mối /iên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác” dé nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay là thiết thực, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn, 1. TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TÀI Các quan hệ hôn nhân và gia đình rất gần gũi với đời sống thực tế, vì vậy, những mối quan hệ này cũng dành được nhiều sự quan tâm của xã hội. Dưới góc độ pháp lý, các học giả, chuyên gia pháp lý cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong những thập niên vừa qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về vần đề hôn nhân và gia đình.
Đó là các công trình khoa học ở bậc đại học đến các công trình khoa học ở bậc sau đại học và các dé tài nghiên cứu khoa học cấp trường.Tuy nhiên, các công trình khoa học này chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở các mức độ: (i) Nghiên cứu chuyên sâu về một chế định cụ thé trong Luật Hôn nhân và gia đình như chế định tai sản giữa vợ va chồng (Xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GD năm 2000” (2005) TS. Nguyễn Văn Cừ); chế định cấp dưỡng (xem luận án tiến sỹ luật học với dé tài “Chế định cấp dưỡng — Một số van đề lý luận và thực tiễn (2006) của TS. Ngô Thị Hường); chế định Nuôi con nuôi (xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về nuôi con nuôi” (2007) của TS. Nguyễn Phương Lan) (xem đề tài khoa học cấp trường “Hoàn thiện chế định nuôi con nuôi trong Luật HN&GD năm 2000” (2007) chủ nhiệm đề tài là TS.
Ngô Thị Hường); Chế định xác định cha, mẹ, con (Xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài “Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam” (2008) của TS. Nguyễn Thị Lan).; Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn (xem đề tài khoa học cấp trường “Giải quyết hậu quả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn” (2006) chủ nhiệm dé tài là TS. Nguyễn Văn Cừ); Van dé tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Xem dé tài khoa học cấp trường “Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (2008) chủ nhiệm đề tài là TS. Nguyễn Phương Lan).
(ii) Nghiên cứu toàn bộ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 dé phát hiện các bat cập trong các chế định cụ thể (xem đề tài khoa học cấp trường “nghiên cứu, phát hiện những bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” (2010) chủ nhiệm đề tài là TS. Trong một phạm vi nhất định, từng đề tài nêu trên cũng đã phần nào đề cập đến những vấn đề có mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác, nhưng chưa mang tính toàn diện. Có thể khăng định rằng, cho đến nay, trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng có nhiều sự thay đổi và phat triển, các chủ thể mối quan hệ hôn nhân và gia đình tham gia vào nhiều các mỗi quan hệ thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác có liên quan để tạo ra một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp đan xen giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học, với tiêu đề '“ Mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân va gia định năm 2000 với các văn bản pháp luật khác” không có sự trùng lặp với các đề tài nghiên cứu khoa học khác.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DE TÀI Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu dé tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của học thuyết Mác — Lê Nin. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở găn liền giữa lý luận và thực tiến dé làm sáng tỏ van đề. Phương pháp nghiên cứu đề tài bao gồm một số phương pháp như phương pháp phân tích, tông hợp, lịch sử, so sánh, thống kê. + Phương pháp phân tích, tổng hợp vừa mang lai cho dé tài một cái nhìn tông quát van đề cần nghiên cứu, vừa làm cho luận án có chiều sâu hơn.
+ Phương pháp lịch sử, so sánh luôn được sử dụng song hành trong việc nghiên cứu đề tài. Bởi vì, khi đặt Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với lịch sử lập pháp, đối chiếu với pháp luật chuyên ngành khác, cũng như với pháp luật các nước thì đề tài mới giải quyết được triệt để vấn đề cần nghiên cứu. Từ đó, đề tài có được những bình luận, đánh giá chính xác về những ưu điểm và nhược điểm của van đề nghiên cứu. + Phương pháp định lượng, định tính được sử dụng khi xử lý những số liệu thực tế.
Từ đó dé tài dam bao tinh chân thực và có sức thuyết phục cao. MỤC DICH NGHIÊN CỨU DE TÀI + Phát hiện và tháo gỡ được những điểm vướng mắc, bất cập và không thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản pháp luật khác trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật. + Loại bỏ những quy định không phù hợp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, cũng như những quy định có thể gây ra những khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. + Xây dựng được những giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ thống nhất, biện chứng với các văn bản pháp luật khác nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa lợi ích của gia đình và lợi ích của cá nhân, và cao hơn nữa là đảm bảo lợi chung của xã hội.
+ Bồ sung nguồn tài liệu đảm bảo chất lượng tốt, phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các tổ chức, cơ quan, trường đại học và đặc biệt là cho sinh viên Luật đang theo học loại hình dao tạo tín chỉ hiện nay. + Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bé sung một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đề tài có thể là một tài liệu tham khảo, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, cũng như các quan hệ giữa một bên chủ thé là thành viên trong gia đình với người thứ ba ở tat cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. DOI TƯỢNG VÀ PHAM VI NGHIÊN CỨU DE TÀI Đối tượng của việc nghiên cứu đề tài là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong sự kết hợp với các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự (2005); Bộ luật Tố tụng dân sự (2004); Luật Nuôi con nuôi (2010); Luật Doanh nghiệp (2005); Luật Thương mại (2005); Luật Đất đai (2003); Luật Nhà ở (2005). để đảm bảo tính toàn diện và sâu sắc của đề tài nghiên cứu.