Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tín dụng ngân hàng đỗi với kinh tế hộ. - Chương 2: Thực trạng tín dụng đối kinh tế hộ tại NHNo&PTNT huyện Chợ Giạo. | | tế - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị mở rộng tín dụng ngân hàng đôi với kinh hộ tại NHNo&PTNT huyện Chợ Gao. CHUONG 1 CO SO LY LUAN CHUNG VE TIN DUNG NGAN HANG DOI VOI KINH TE HO 1.1 DAC DIEM, VAI TRO CUA KINH TE HO SAN XUẤT - 1.1 Đặc điểm chung kinh tế hộ ở Việt Nam —_ 1.1 Khái niệm Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tễ, trước hết chủng ta cần thây rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền.
sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Phương thức sản xuất này có những quy luật phát triển riêng của nó và trong mỗi chế độ nó tìm cách thích ứng với nền kinh tế hiện hành. Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất.
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, “hộ” là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người chung huyết thống và người làm công. Liên hiệp quốc cho răng: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” [7]. Có quan niệm lại cho rằng hộ sản xuất là một đơn vị kính tế mà các thành viên đựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng sáng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất hộ được tiễn hành một cách độc lập và các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng sống chung trong một ngôi nhà.
Hộ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động, tồn tại như một đơn vị kinh tế cơ sở với chế độ tự cấp, tự túc, tự sản, tự tiêu. Tại điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 “ Hộ gia đình là các thành viên có __ tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh t chung trong sản xuất nông. lâm, ngư hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật qui định là chủ thế khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”[9]. Trên góc độ ngân hàng: "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ.
chủ thể Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một vị trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. "hộ: Một số thuật ngữ khác được dùng dé thay thé thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", gia đình”. | Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân {6 quan trong của sự, trong quá nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và là sự tổn tại tất yếu trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo Quyết định 499A/TDNT ngày 2/9/1993, theo đó khái niệm hộ hoạt sản xuất được hiểu như sau: "Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp chịu động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình" [11].
Thành phần chủ yếu hộ của hộ sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thê, hộ gia đình xã viên, nông, lâm trường viên. Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hộ này tiên hành sản xuất kinh đoanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta.2 Dac điểm kinh tế hộ ở Việt Nam - Hộ sản xuất trong đề tài này chỉ bao gồm những hộ giađình đang tham gia sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp ở khu vực nông thôn. Một là: Hộ sẵn xuất là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng những năm qua số lượng các công ty lên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước của các ngoài đã tăng lên nhanh chóng, nhưng yêu cầu đối với lao động nông thôn hội làm doanh nghiệp này đòi hỏi rất cao, do đó rất ít lao động nông thôn có cơ việc trong các doanh nghiệp này. Hiện nay, ở nước ta có khoảng 12 triệu lao động chưa [1] chưa được sử dụng và quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn cũng được sử dụng hết. Các yếu tố tự nhiên chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân triển đối giữa lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn chúng ta cần phải phát kinh tế hộ sản xuất.
Trên thực tế đã cho thấy trong những năm vừa qua hàng triệu và cơ sở sản xuất được tạo.ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực nông nông nghiệp néng thon, - Ba là: Hộ sản xuất góp phân thúc đây sản xuất hàng hóa Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động trong cơ chế thị trường có sự tự do cạnh xuất tranh. Trong sản xuất hàng hóa hộ là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì, sản xuẤt cho ai, sản xuất bao nhiêu, sản xuất vào thời gian nào và sản xuất bằng kỹ thuật nào để trực tiếp quan hệ với thị trường, Để đạt được điều này các đơn vị kinh tê nói chung và hộ sản xuất nói riêng đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cau từ đó mở rộng sản xuất dong : thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. | Với quy mô nhỏ, bộ máy quan lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể linh hoạt đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ tốn _ kém nhiều về mặt chỉ phí. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà nước có các chính sách khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vươn lên tự khẳng định vị trí trên thị trường, tạo điều kiện thúc day thị trường phát triển, đa dang, góp phân thúc đây quá trình sản xuất hàng hóa.
Như vậy với khả năng khá nhạy bén trước nhu cầu của thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng nhanh phần nào những nhu cầu ngày càng cao của thị trường, tạo ra động lực thúc đây sân xuất hàng hóa phát triển cao hơn. Bốn là: Hộ sẵn xuất thúc đây sự phân công lao động dần tới chuyên môn hóa, tạo khả năng hợp tác lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi Kinh tế hộ đã từng bước góp phan tao sự chuyén dich co cầu nông thôn, lao củng cố quan hệ sản xuất, tăng cường lực lượng sản xuất tạo sự phân công động trong nông thôn từ nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hóa kém dẫn phát triển sang sản xuất hàng hóa phát triển hơn. Từ sự phân công lao động hàng đến quá trình chuyên môn hóa trong các hộ sản xuất. Đối với các hộ sản xuất câu hóa nông sản chất lượng cao, đòi hỏi sự chuyên môn hóa cao dẫn đến một yêu ˆ tất yếu là sự hợp tác lao động giữa các hộ sản xuất với nhau.
Nếu như chuyên môn hóa làm cho năng xuất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác nhu hóa sẽ làm cho quá trình sản xuất hàng hóa được hoàn thiện đáp ứng đầy đủ cầu của chính các hộ sản xuất và từ đó đáp ứng nhu cầu thị trường.2 Phân loại hộ sản xuất Các hộ sản xuất dù hoạt động trong lĩnh vực nào của nền kinh tế cũng có những đặc trưng phát triển do bản thân nên sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp quyết định. Hộ sân xuất hoạt động sản xuất kinh đoanh trong nền kinh tế hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư mỗi gia đình. Việc phân loại hộ sản xuất cần có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây đựng các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp nhằm đầu tư phát triển có hiệu quả kinh tế hộ sản xuất, Có thể phân loại hộ sản xuất theo 02 cách như sau: 1.1 Dựa trên yếu tô tự nhiên | _ Yếu tổ tự nhiên đề cập đến ở đây là các đặc trưng địa lý kinh tế, xã hội. Có thể gặp hai kiểu phân loại chính: Một là thành thị - nông thôn; hai là vùng kinh tễ.
Một là: Hộ sản xuất thành thị và nông thôn: Các hộ được phân công theo địa bản cư trú tương ứng là thành thị và nông thôn. Nước ta có 72% số hộ nông thôn và 28% hộ thành thị [1 1]. Hai là: Hộ sản xuất theo vùng kinh tế: theo đó nước ta có 7 vùng chính | đó là: Miễn núi và trung du Bắc Bộ; Đồng bằng Sông Hồng; ven biển Bắc Trung Bộ; ven biển Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng Sông Cửu Long [11]. | Hoạt động kinh tế hộ sản xuất mang sắc thái và đặc trưng mỗi vùng.2 Dwa trén yéu t6 kinh té Đây là hình thức phân loại thường gặp nhất, trong đó bao gồm nhiều dạng phân loại khác nhau.
Dựa vào thu nhập có thể chia ra hộ giàu - nghèo; hoặc hộ giàu, hộ khá - hộ cận nghèo - hộ nghèo. Tuy nhiên? việc tính thu nhập nhất là của người nông dân là điều rất phức tạp. Mặt khác, tiêu chuẩn giàu, nghèo khác nhau _ giữa các khu vực như thành thị, nông thôn. Dựa vào mức độ đa đạng hóa sản xuất có thể chia ra: hộ thuần nông, hộ kinh doanh tổng hợp, hộ sản xuất phi nông nghiệp.