mở đầu, người tham gia và có khi như là người nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất. Nếu tín dụng không tạo được tiền nhằm mở ra các quá trình sản xuất, và với hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp không thể tiến hành trôi chảy quá trình sản xuất và do đó không tạo ra nguồn tích luỹ cần thiết cho chính bản thân ngân hàng và cho nền kinh tế.Vai trò của NHTM Trong nền kinh tế thị trường vai trò của các NHTM có các chức năng cơ bản góp phần để nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả hơn. NHTM là nơi huy động vốn và cung cấp vốn cho nền kinh tế. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, thông qua hoạt động tín dụng NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất.
Nhờ có hoạt động tín dụng của NHTM mà các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động, lợi nhuận thu dược ngày càng cao từ đó tăng nhanh quá trình tích luỹ, tiết kiệm của nền kinh tế. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu. Hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở đáp ứng, thoả mãn nhu cầu thị trường trên các phương diện như giá cả khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, thời gian, địa điểm. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp.
Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin 13 vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, đứng vững trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiêu vĩ mô nền kinh tế.
Các NHTM là đối tượng và đồng thời là phải thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế quốc gia. Thông qua hệ thống của mình, bằng hoạt động tín dụng và thanh toán dưới sự tác động của ngân hàng trung ương, các NHTM góp phần mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền tệ trong lưu thông để ổn định giá trị đồng tiền. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, thu hút vốn nước ngoài để tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời trên cơ sở mở rộng sản xuất phát triển ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu và chính sách xã hội của Nhà nước. NHTM là cầu nối giữa nền tài chính Quốc gia với nền tài chính quốc tế:.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá là tất yếu, nó ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. NHTM cùng với hoạt động kinh doanh của mình, đóng một vai trò quan trọng trong sự hoà nhập kinh tế khu vực và thế giới. Với các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tài trợ ngoại thương, NHTM tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương phát triển, đưa các tập quán, luật pháp, trình độ kinh doanh xích lại gần nhau, từ đó điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính Quốc tế.
Tóm lại, NHTM có vai trò quan trọng đối với sự 14 phát triển kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh, xu thế toàn cầu hoá hội nhập ngày càng mạnh mẽ. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong hoạt động kinh doanh NHTM 1. Tín dụng là gì? Thuật ngữ "tín dụng" xuất phát từ gốc La tinh "creditum" có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau hay nói cách khác là lòng tin. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu được một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Nhìn chung, mối quan hệ tín dụng luôn bao gồm hai mặt cơ bản đó là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả, sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là điểm khác biệt để phân biệt sự khác nhau với các phạm trù kinh tế khác, ngoài ra tín dụng còn đặc trưng cơ bản đó là lòng tin và tính thời gian. Tín dụng gồm nhiều loại như tín dụng nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng… Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng chủ yếu giữa một bên là ngân hàng và một bên là tất cả các tổ chức và thể nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. - Với tư cách là người đi vay: Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng các hình thức: Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức phát hành chứng chỉ tiền gửi (kì phiếu, trái phiếu) để huy động vốn trong xã hội.
Với tư cách này ngân hàng đã tập trung được một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành một nguồn vốn lớn để thực hiện cho vay. - Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, tồ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với tư cách này ngân hàng đã thực hiện chức năng phân 15 phối lại tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất trong xã hội. Trong quá trình tái sản xuất xã hội thường xuyên xuất hiện hiện tượng tạm thời thừa vốn ở một số doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.
Trong khi đó một số doanh nghiệp, tồ chức, cá nhân khác lại có nhu cầu về vốn. Hiện tượng thừa thiếu này phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục nhưng họ không đủ vốn để thực hiện, tín dụng thương mại không giải quyết được vấn đề này. Chỉ có ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó, khi ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Vai trò của Tín dụng Ngân hàng Nền kinh tế càng phát triển thì khối lượng tín dụng ngân hàng được thực hiện càng lớn và chiếm phần lớn tỷ trọng khối lượng tín dụng được thực hiện trong nền kinh tế.
Vì vậy hoạt động tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng, thể hiện trên những điểm cơ bản sau: - Tín dụng Ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả: + Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư phát triền kinh tế: Do đặc điểm của tuần hoàn vốn, nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn không có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng, giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư, hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo với lượng tiền thu được từ việc tiêu thụ hàng hoá của chu trình sản xuất kinh doanh trước đó. Do đó luân chuyển tiền tệ của các doanh nghiệp có lúc thừa lúc thiếu. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, từ ngân sách. được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng đề đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm 16 thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho yêu cầu chi ngân sách nhà nước trong lúc chưa có nguồn thu.
Như vậy tín dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn một cách có hiệu quả trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. + Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Thông qua việc tập trung và ưu tiên vốn cho các ngành kinh tế mũi nhọn, kinh tế trọng điểm là những nơi có nhu cầu vốn cực lớn, từ đó tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao sức mạnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. + Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ thông qua việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện được các cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh của mình. Thông thường các doanh nghiệp chỉ sử dụng đến nguồn vốn ngân hàng sau khi đã huy động mọi nguồn lực của bản thân, điều đó cũng có nghĩa là nếu không có tín dụng ngân hàng thì doanh nghiệp khó có khả năng thực hiện đầu tư kinh doanh của mình.
Nhất là trong cơ chế thị trường, mất cơ hội là thực sự khó khăn. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh trong cạnh tranh, vươn lên tồn tại và phái triển trên thương trường. + Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy chế độ hạch toán kinh doanh, tăng cường quản lí tài chính, tăng tích luỹ đối với doanh nghiệp. Về phía người vay vốn luôn cân nhắc giữa hiệu quả vốn vay mang lại với thời hạn, lãi suất của vốn vay và họ chỉ vay khi tính toán có lãi, đó chính là bản chất của hạch toán kinh tế.
Về phía ngân hàng, trước khi cho vay cũng đòi hỏi khách hàng phải thoả mãn những điều kiện về tài chính cũng như chất lượng của các báo cáo tài chính. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải tăng cường hơn nữa trong việc hạch toán kinh doanh, quản lý tài chính và tích luỹ vốn.