Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 1.1 Cơ sở lý luận của quá trình mở rộng Liên minh châu Âu 1 Liên minh châu Âu – EU là một điển hình của quá trình liên kết kinh tế quốc tế trên thế giới hiện nay. Đây là quá trình hợp nhất các nền kinh tế của các quốc gia trong một hệ thống kinh tế thống nhất với các mối quan hệ kinh tế được sắp xếp theo một trật tự nhất định trên cơ sở thoả thuận giữa các nước thành viên. Phải khẳng định rằng: việc các quốc gia, các chính phủ tham gia khối liên kết kinh tế quốc tế là một hoạt động tự giác trên cơ sở nhận thức được những lợi ích do quá trình này mang lại. Và đây được coi là một giải pháp hợp lý để xử lý mối quan hệ có tính chất đối lập nhau giữa xu hướng tự do hoá thương mại với bảo hộ mậu dịch, tạo điều kiện cho các quốc gia khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế phát triển trong khu vực, nâng cao hiệu quả của từng nền kinh tế và của cả khối.
Về mặt xã hội, quá trình liên kết kinh tế sẽ góp phần loại bỏ tính biệt lập và chủ nghĩa cục bộ của từng quốc gia; mở rộng, giao lưu về mọi mặt giữa các cộng đồng người; làm cho các quốc gia trở nên gần gũi nhau hơn trong các mối quan hệ; giảm bớt những xung đột cục bộ, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Mở rộng các khối liên kết nói chung và quá trình mở rộng Liên minh châu Âu nói riêng là một phần trong liên kết kinh tế quốc tế. Dù chỉ là một phần nhưng thực tiễn về vấn đề mở rộng lại rất phức tạp và hiện nay, chưa có một lý thuyết nào được xây dựng để giải thích riêng cho vấn đề này. Xuất phát từ những mục tiêu kinh tế, chính trị, xã 1 Phần này có tham khảo Kinh tế và chính sách của EU mở rộng do GS.
Carlo Alto monte và GS. Mario Nava làm chủ biên. 7 hội…mà EU hướng tới, luận văn đưa vào một số lý thuyết theo quan điểm ủng hộ thương mại tự do, khuyến khích các quốc gia tạo nên một khu vực (lãnh thổ) mà ở đó không có những rào cản thương mại (hiểu theo nghĩa rộng) để làm căn cứ luận, giải thích cho tiến trình hình thành, phát triển và mở rộng của Liên minh châu Âu.1 Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế quốc tế được hai nhà kinh tế học J. Corden (The theory of protection-1971) đưa ra để chứng minh những lợi ích các quốc gia sẽ đạt được nếu chuyển từ chủ nghĩa bảo hộ hoàn toàn, tức là đóng cửa quốc gia với các dòng hàng hoá nói chung sang thương mại tự do, tức là một nền tảng thể chế mà hàng hoá có thể lưu chuyển tự do từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Không những thế, họ còn nghiên cứu việc làm thế nào và với chi phí ra sao để các quốc gia có thể thực hiện được sự chuyển đổi này. Để đơn giản hoá lý thuyết của mình, J. Corden đã đưa ra một loạt các giả định: chỉ nghiên cứu thương mại hàng hoá và giới hạn ở một số ít quốc gia; thị trường hàng hoá và yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo; các yếu tố sản xuất có thể lưu chuyển giữa các quốc gia và không tính tới chi phí vận chuyển; các quốc gia đều đạt cân đối thương mại (xuất khẩu = nhập khẩu) và các nguồn lực được sử dụng hoàn toàn. Các giả định này đã giúp cho lý thuyết trở nên rõ ràng hơn nhưng chính nó đã làm cho lý thuyết bị hạn chế bởi chỉ có khả năng phân tích mô hình tĩnh mà thôi.
Thực tế phức tạp hơn rất nhiều trong khi lý thuyết lại bỏ qua một loạt những yếu tố rất quan trọng như: tiến bộ công nghệ, tăng trưởng kinh tế hay phân phối thu nhập. Dù bị hạn chế như vậy nhưng về bản chất, lý thuyết vẫn được xây dựng trên cơ sở các mô hình tiêu chuẩn về thương mại quốc tế và có thể được sử dụng để rút ra những nhìn nhận cơ bản về các mô hình hội nhập kinh tế quốc tế khác nhau giữa các nước. Để đánh giá động thái của quá trình hội nhập, chúng ta sẽ xét 2 quốc gia: một quốc gia đơn nhất H (quốc gia gốc) và quốc gia W đại diện cho phần còn lại của thế 8 giới. Tại quốc gia H, sở thích của khách hàng đại diện và khả năng sản xuất một hàng hoá cụ thể được thể hiện ở đường cầu D H và SH.
Đây là quốc gia nhỏ nên bất cứ sự thay đổi nào về khối lượng cân bằng của hàng hoá đều không có ảnh hưởng tới giá cả và khả năng sản xuất của hàng hoá đó trên thế giới. Kết quả là đường cung về hàng hoá trên thế giới tại quốc gia H là đường nằm ngang. Nó co giãn hoàn toàn, có nghĩa là thị trường thế giới có khả năng cung cấp hàng hoá đó cho quốc gia H với khối lượng bất kỳ với mức giá cụ thể pW (pW<pH). H H p D S W W H W p ’=p +T= p S ’ W p W S O q H A Q B Nếu không có hạn chế thương mại nào, người tiêu dùng sẽ sử dụng khối lượng hàng là OB với mức giá pW, trong đó, OA được sản xuất trong nước; AB nhập từ thị trường thế giới (xem biểu đồ 1.
Nếu quốc gia H quyết định bảo hộ để khuyến khích sản xuất trong nước, họ sẽ hạn chế lượng hàng nhập khẩu bằng nhiều cách (phổ biến nhất là sử dụng hàng rào thuế quan). Nếu quốc gia này bảo hộ hoàn toàn, họ sẽ đánh thuế sao cho mức giá mới của hàng nhập khẩu bằng giá cả của hàng hoá đó được sản xuất trong nước. Khi qui các mức giá này về số liệu cụ thể, ta có thể dễ dàng tí nh được 9 phần thiệt hại mà quốc gia H phải chịu do bảo hộ hoàn toàn (phần thiệt hại của người tiêu dùng trong nước khi giá tăng từ pW lên pw’ và tổng cầu giảm từ OB xuống còn OQH). Kể từ sau khi Đại chiến II kết thúc, các nước bắt đầu nhận thấy rõ những tổn thất do Chủ nghĩa bảo hộ gây nên và dần chuyển sang sử dụng chính sách thương mại tự do, tức là bắt đầu tự do hoá một số lĩnh vực thương mại trong quan hệ đối với một số quốc gia đối tác, tạo nên các Thoả ước hội nhập khu vực (Regional Intergration Agreements - RIAs).
Cơ chế được các nước sử dụng để cắt giảm các rào cản thương mại đối với đối tác của mình chính là Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area - FTA) và Liên minh thuế quan (Custom Union - CU). Trong các Khu vực mậu dịch tự do, các quốc gia xoá bỏ hàng rào thương mại với đối tác nhưng vẫn duy trì những rào cản này đối với phần còn lại của thế giới. Quyền tự quyết của các quốc gia thành viên trong FTA về rào cản thuế quan của mình với các quốc gia không phải là thành viên sẽ bị bãi bỏ trong liên minh thuế quan. Trong trường hợp này, không chỉ các quốc gia tham gia xoá bỏ rào cản thương mại với đối tác của mình mà còn quyết định về một biểu thuế quan ngoại khối chung (CET) để mỗi thành viên áp dụng đối với phần còn lại của thế giới.
Minh chứng đáng chú ý nhất chính là Liên minh châu Âu. Thực tế ngay từ năm 1957, Hiệp ước Rome đã đặt ra các điều khoản qui định về một chính sách thương mại chung cho phép 6 quốc gia sáng lập thống nhất về một biểu thuế quan ngoại khối chung. Tới 1968, Liên minh thuế quan của Cộng đồng châu Âu có hiệu lực và biểu thuế quan chung ra đời, thay thế cho biểu thuế quan riêng của mỗi quốc gia thành viên trong quá trình giao lưu thương mại với các nước ngoài khối. Biểu thuế quan ngày nay của EU cũng bắt nguồn từ đó.
Để hiểu thêm về FTA và CU, chúng ta mở rộng ví dụ về hai quốc gia ban đầu sang quốc gia thứ 3 (quốc gia P) là đối tác của H trong FTA. Giả định quốc gia này sản xuất hiệu quả hơn quốc gia H với mức giá cân bằng pP thấp hơn pH nhưng vẫn cao hơn pW. 10 p DH SH p DP pW’=pH SH +P P S pP=pFTA pP Biểu đồ 1.2 Giả sử, hai quốc gia H và P sử dụng hàng rào ngăn cản đối với phần còn lại của thế giới và vì vậy không có hàng hoá nào có thể nhập khẩu vào. Khi hai quốc gia này thiết lập FTA thì người tiêu dùng ở H có thể sử dụng hàng hoá của P với mức giá thấp hơn pW’.
Như vậy, đường cung tương ứng của H sẽ là tổng hai đường cung: S H+P và xác định được mức giá pFT A Nếu cầu hàng hoá phụ trội của người tiêu dùng tại H được đáp ứng bằng hàng hoá sản xuất ở P thì pFT A=pP (xem hình 1. Với mức giá rẻ hơn, họ sẽ tăng khối lượng tiêu dùng từ OQH lên OD, trong đó: OC được sản xuất trong nước; CD nhập khẩu từ P. Lợi ích thương mại tạo thêm do tham gia FTA của quốc gia H chính là p H CD; còn lợi ích của quốc gia P chính là tam giác (*) (do họ xuất khẩu hàng hoá sang H và nhập khẩu trở lại từ thị trường thế giới với mức giá rẻ: pW). 11 Trong trường hợp lượng cầu về hàng hoá này của nước H cao hơn mức sản xuất mà P có thể cung cấp thì pH>pFT A>pP.
Tác động của mô hình này cũng tương tự như mô hình trên song lợi ích thương mại tạo thêm của quốc gia H sẽ thấp hơn do phải nhập khẩu hàng hoá với mức giá pFT A>pP; lợi ích của quốc gia P tăng lên do họ có mức sản xuất phụ trội để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của H và bán hàng hoá với mức giá cao hơn giá nội địa2 Giả sử hai quốc gia H và P thiết lập một liên minh thuế quan thì kết quả của mô hình hội nhập này sẽ ra sao? Khi thiết lập liên minh thuế quan, H và P ngoài việc bãi bỏ hàng rào thương mại giữa hai nước, họ còn phải hi sinh quyền tự chủ trong việc xác định thuế quan đối với thế giới bên ngoài để cùng thiết lập một Biểu thuế quan ngoại khối chung (Common External Tariff – CET).