LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngay từ thời cổ đại, hoạt động thương mại quốc tế đã diễn ra không kém phần sôi động mà “Con đường tơ lụa” - huyết mạch thông thương huyền thoại nối liền hai lục địa Âu - Á là một minh chứng rõ nét. Đến nay, buôn bán giao thương xuyên biên giới đã trở nên phổ biến ở khắp nơi và phát triển sâu rộng không ngừng. Đóng góp một phần ngày càng lớn vào GDP, thương mại quốc tế không chỉ còn là chuyện của cánh lái buôn mà giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Đặc biệt, cuốn theo cơn lốc toàn cầu hóa, khu vực hóa, các quốc gia đã và đang gia sức phát triển nền kinh tế theo hướng mở cửa, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế, biên giới giữa các quốc gia dường như bị xóa nhòa, thị trường thế giới dần trở thành một thực thể thống nhất. Trong bối cảnh đó, hoạt động thanh toán quốc tếcủa ngân hàng thương mại được xem như mối kết nối giữa kinh tế trong nước với phần kinh tế quốc tế bên ngoài, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa, dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính tín dụng quốc tế khác. Việt Nam đã và đang chủ động, tích cực gia nhập thị trường quốc tế, nhiều biện pháp được triển khai nhằm xúc tiến, thúc đẩy hoạt động thương mại XNK đã tạo ra cơ hội lớn cho các ngân hàng thương mại trên mảng thị trường này.Nắm bắt được tầm quan trọng và tiềm năng phát triển, nghiệp vụ thanh toán QT đang được“các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói riêng”quan tâm chú ý, tăng cường phát triển. Suốt nhiều năm liền, chi nhánh Quang Trung luôn giữ vị trí top đầu trong hệ thống các chi nhánh của BIDVvà được giao đầu mối quản lý nhiều khách hàng lớn.Tuy nhiên,“khi so sánh với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống cũng như các chi nhánh ngang tầm khác không cùng hệ thống thì hoạt động thanh toán quốc tế lại chưa phát triển xứng với vị trí và tiềm năng của chi nhánh.”Trong khi đó, nhu cầu cũng như giá trị thanh toán quốc tế lại không ngừng gia tăng cùng với sự 2 phát triển của hoạt động ngoại thương đem lại nguồn thu đáng kể và chắc chắn cho ngân hàng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu giải pháp nhằm mở rộngdịch vụ thanh toán quốc tế của BIDV Quang Trung là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung” cho luận văn thạc sỹ của mình. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu hệ thống lý luận về mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHTM và thực trạng dịch vụ thanh toán quốc tế tại BIDV - Chi nhánh Quang Trung (dựa trên các tiêu chí đã được đưa ra). Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc mở rộng dịch vụ TTQT tại BIDV Chi nhánh Quang Trung.
- Đưa ra đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng dịch vụ thanh toán QT tại BIDV Quang Trung trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về mở rộng dịch vụ TTQT và thực trạng dịch vụ TTQT tại BIDV - chi nhánh Quang Trung. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV - chi nhánh Quang Trung, dữ liệu khảo sát và nghiên cứu giới hạn tronggiai đoạn2016-2019. Nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về mở rộng dịch vụ TTQT tại BIDV - chi nhánh Quang Trung, không nghiên cứu nội dung TTQT qua thẻ.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với phân tích định lượng và định tính. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong kinh tế như phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp suy diễn và quy nạp… để đánh giá thực trạng 3 dịch vụ TTQT tại BIDV - chi nhánh Quang Trung và đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp nhằm mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế lại BIDV Quang Trung. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1. Cơ sở lý luận về mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại.
Thực trạng mở rộngdịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Quang Trung. Giải pháp tiếp tục mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Quang Trung. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNGDỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm về thanh toán quốc tế: Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người nhưng tầm quan trọng trong kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới chỉ dấy lên trong vài thập kỉ gần đây. Hoạt động giao thương ngày nay diễn ra hết sức sôi động, vượt qua không gian, thời gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ đầy đa dạng và phức tạp. Trong quá trình tiến hành tất yếu nảy sinh nhu cầu thanh toán, chi trả giữa các chủ thể ở các nước khác nhau. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, giữa các quốc gia luôn luôn có sự giao lưu về kinh tế.
Nhưng do sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp mà phải thông qua trung gian thanh toán, đó là các ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động rộng khắp. Thanh toán quốc tế đã trở thành một dịch vụ ngoại bảng quan trọng của các NHTM, nó mang lại một khoản phí cao trong số các hoạt động ngoại bảng khác. Thông qua thanh toán quốc tế ngân hàng có thể phát triển các nghiệp vụ khác như tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh,. Định nghĩa: “Thanh toán quốc tếlà việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân của các quốc gia khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” Như vậy, về cơ bản thanh toán quốc tế (TTQT) phục vụ cho 2 lĩnh vực cơ bản là kinh tế và phi kinh tế.
Mặt khác, do hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, nên người ta thường phân thanh toán QT thành hai lĩnh vực như sau: 5 - Thanh toán trong ngoại thương: Việc thanh toán được dựa trên cơ sở hoạt độngxuất nhập khẩu hàng hóa và cung ứng các dịch vụ thương mại cho đối tác nước ngoài. Trong đó, cơ sở chủ yếu để các bên tiến hành giao dịch và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. - Thanh toán phi ngoại thương: Việc thanh toán cho các mục đích không mang tính thương mại, như:chuyển kinh phíphục vụ hoạt động thường xuyên của các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài;”kiều hối chuyển về nước; các nguồn tiền viện trợ, tài trợ có tính chất một chiều, hay chuyển tiền đi định cư ra nước ngoài, … 1. Đặc điểm của thanh toán quốc tế, so sánh với từng nghiệp vụ ngân hàng cơ bản khác - Chủ thể tham gia trong các quan hệ TTQT khá đa dạng.
Đó có thể là doanh nghiệp, ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại hay cá nhân… - Đồng tiền sử dụng trong quan hệ TTQT là bản tệ hoặc ngoại tệ. Đồng tiền đó có thể là đồng tiền quốc tế (được hình thành trên cơ sở các hiệp định song phương hoặc đa phương) hoặc đồng tiền quốc gia. Đồng tiền sử dụng trong TTQT thường là đồng tiền mạnh và có khả năng chuyển đổi cao. - Hoạt động TTQT diễn ra theo những điều kiện nhất định.
Đó là: điều kiện thanh toán, phương thức thanh toán, phương tiện thanh toán, đồng tiền thanh toán, thời gian và địa điểm thanh toán theo thoả thuận của các bên liên quan. Những thoả thuận này bị hạn chế định bởi luật quốc tế, luật quốc gia, các thông lệ và tập quán quốc tế liên quan rất phức tạp. - Hoạt động TTQT luôn chứa đựng nhiều rủi ro và tiềm ẩn do các đặc điểm sau: + Sự hiểu biết lần nhau giữa các bên liên quan là khá ít và rất khó thẩm định. + Phạm vi không gian rất rộng.
Hàng hoá khi chuyển từ người bán sang người mua phải qua trung gian người vận chuyển. Tiền thanh toán phải qua trung gian các ngân hàng liên quan và thời gian thanh toán thường khá dài. 6 + Môi trường pháp lý quốc tế không đồng nhất, không đầy đủ do trình độ phát triển và luật điều chỉnh, tập quán giao dịch và thanh toán các quốc gia rất khác nhau. + Lợi ích và mong muốn của các bên tham gia là không đồng nhất.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử và công nghệ ngân hàng điện tử vào nửa cuối thế kỷ XX đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng kỹ thuật TTQT điện tử. Sự xuất hiện của các hệ thống chuyển tiền điện tử quốc tế, hiệp hội liện ngân hàng tài chính toàn cầu v.v… là minh chứng rõ ràng cho điều này. Kỹ thuật TTQT điện tử có những ưu điểm nổi bật: rất nhanh chóng, tính bảo mật cao, chi phí rẻ song đòi hỏi trình độ công nghệ điện tử tương đồng giữa các quốc gia và sự nghiêm ngặt trong quy trình thực hiện. So với những nghiệp vụ ngân hàng cơ bản khác, TTQT được đánh giá là nghiệp vụ phức tạp với những đặc điểm riêng có, nhiều khác biệt với các nghiệp vụ NHTM khác.
Việc hiểu rõ đặc thù, đánh giá một cách đầy đủ thuận lợi cũng như những yêu cầu và khó khăn là một yêu cầu quan trọng nếu muốn đưa vào hoạt động hay lựa chọn chiến lược phát triển cho nghiệp vụ này.