Chương 1: Những vấn đề cơ bản về mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Giang. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Giang. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm, đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Hoạt động chủ yếu của NHTM là tài trợ cho các khách hàng trên cơ sở tín nhiệm. Hay nói cách khác, hoạt động quan trọng nhất của các NHTM là hoạt động cho vay. Cho vay là một hoạt động kinh tế, đó là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng giữa hai bên cùng có lợi. Cho vay là một giao dịch bằng tiền giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên đi vay (Doanh nghiệp, cá nhân) trong đó theo thỏa thuận bên cho vay sẽ chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, còn bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
"Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định" (Lê Thị Tuyết Hoa-Nguyễn Thị Nhung, 2011) Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng, Học viện ngân hàng, năm 2014: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”. “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. (Nguyễn Minh Kiều, 2015) Tại Việt Nam, Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách 9 hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi”. Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Tín dụng còn có nghĩa 1à một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Do cho vay là hoạt động truyển thống của các ngân hàng thương mại nên thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tỷ trọng tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro nhất. Đối tượng cho vay cũng đa dạng, bao gồm: doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân, trong đó, khách hàng cá nhân là đối tượng có số lượng lớn, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cho vay vốn của ngân hàng thương mại.
Các cá nhân sử dụng vốn vay của ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc đầu tư cho mục đích sản xuất kinh doanh của mình. Như vậy, cho vay KHCN là việc mà NHTM cho các cá nhân vay với nhiều mục đích khác nhau như thanh toán các sinh hoạt phí, trang bị đồ dùng cho gia đình, mua sắm hoặc nâng cấp nhà cửa phục vụ cho hoạt động SXKD của cá cá nhân, hộ gia đình và DN tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ, chủ doanh nghiệp tư nhân. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2011), liên hệ với lĩnh vực cho vay KHCN tại NHTM có các đặc điểm như sau: + Đối tượng và mục đích vay: Là các cá nhân có nhu cầu vay vốn để sử dụng phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân đó. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội.
10 + Thời gian vay vốn: Thời gian vay vốn của khách hàng cá nhân đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn. Còn đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn. Ví dụ, thời gian của khoản vay mua nhà ở của cá nhân vay vốn có thể lên tới 15-20 năm.
+ Quy mô vốn và số lượng các khoản vay: Thông thường thì các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô vốn thường nhỏ hơn cho vay đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, đối với các NHTM hoạt động theo định hướng là Ngân hàng bán lẻ thường có số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân chiếm tỉ trọng lớn. + Chi phí cho vay: Chi phí mà NHTM bỏ ra đối với các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường lớn cả về chi phí nhân lực và công cụ. Bởi đối tượng cho vay khách hàng là cá nhân có diễn biến phức tạp, số lượng các khoản vay là lớn, song quy mô mỗi khoản vay lại tương đối nhỏ.
+ Lãi suất cho vay: Thứ nhất là mức độ rủi ro cao, thứ hai là doanh số cho vay thấp nên chi phí bình quân tính trên từng đồng vốn mà NHTM đem ra để cho vay KHCN cũng cao hơn KHDN nên lãi suất cho vay KHCN theo đó cũng cao hơn; đồng thời, thời hạn cho vay đối với các món vay của KHCN cũng có xu hướng ngắn hơn để các ngân hàng có thể kiểm soát được rủi ro các món vay này được tốt hơn. + Rủi ro tín dụng: Xét trên góc độ các nhà quản trị ngân hàng, họ cho rằng KHCN dễ bị mất khả năng chi trả hơn khi xảy ra các biến động bất lợi về tình hình tài chính, nguồn thu nhập, tình hình sức khỏe,. Tất cả những yếu tố này có tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng và phần nào mang tính định tính, ví dụ như tư cách khách hàng, chất lượng của thông tin tài chính,…Do vậy, các khoản cho vay khách hàng cá nhân bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại Phân loại cho vay KHCN nhằm mục đích quản lý nợ vay một cách hiệu quả hơn.
Tùy theo từng đối tượng khách hàng và nhu cầu của họ mà các NHTM chia các loại hình cho vay KHCN thành những nhóm khác nhau. Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2015), liên hệ với lĩnh vực cho vay KHCN tại NHTM thì có thể phân loại như sau: 1. Theo mục đích sử dụng vốn vay * Cho vay tiêu dùng: - Mục đích vay vốn: Người đi vay sử dụng tiền vay vào việc mua sắm đồ dùng của gia đình (ví dụ như thiết bị điện tử, nhà cửa, xe cộ,.) hoặc trang trải các chi phí sinh hoạt cá nhân (ví dụ như đi du học, chữa bệnh, cưới hỏi,.) nhằm phục vụ lợi ích của cá nhân, hộ gia đình. - Ưu điểm: Giúp cho việc tiếp cận vốn của các cá nhân có nhu cầu vay tiêu dùng dễ dàng hơn.
Khách hàng có thể được trả vốn nhiều lần. - Nhược điểm: Thu thập thông tin khách hàng gặp nhiều khó khăn. * Cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: - Mục đích vay vốn: Các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh sử dụng vốn vay để bổ sung nguồn vốn lưu động phục vụ hoạt động SXKD của mình. - Đặc điểm: Các khoản vay này thường có thời hạn cho vay ngắn và quy mô nhỏ (chủ yếu phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh, phương án SXKD của khách hàng); RRTD (Khả năng xảy ra rủi ro đạo đức từ việc thu thập thông tin bị sai lệch, khách hàng cố tình không trả nợ hay sử dụng vốn vay không đúng mục đích).
Theo thời hạn cho vay * Cho vay ngắn hạn: - Khái niệm: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng trở xuống. - Ưu điểm: Sử dụng bù đắp các khoản vay ngắn hạn như chi tiêu mua sắm trong thời gian ngắn cần phải có phương án trả nợ sớm. Rủi ro của khoản vay này khá nhỏ, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra. 12 - Nhược điểm: Giá trị khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lại lớn, dẫn đến các khoản chi phí (về cả nguồn lực và con người) mà ngân hàng bỏ ra quản lý các khoản vay thường ở mức tương đối cao.
* Cho vay trung hạn: - Khái niệm: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (từ 1 – 5 năm). - Ưu điểm: Với các khoản mua sắm tài sản lớn, khách hàng nên lựa chọn phương án vay trung hạn để có thời gian hoàn trả lại vốn vay dài. Thường là các khoản vay trung hạn như đi du học, mua sắm ô tô, xây dựng nhà cửa,… - Nhược điểm: Rủi ro lãi suất cho các khoản vay này thường lớn vì vậy cơ chế lãi suất cho vay áp dụng cho các hợp đồng tín dụng trung hạn cần phải linh hoạt. * Cho vay dài hạn: - Khái niệm: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng (5 năm).
- Ưu điểm: Các khách hàng thường có nhu cầu vay vốn lớn để mua sắm tài sản có giá trị như nhà cửa, đất đai… - Nhược điểm: Rủi ro tiềm ẩn là lớn. Theo tính chất bảo đảm/mức độ tín nhiệm của người vay * Cho vay có bảo đảm: - TSBĐ có thể là động sản, bất động sản, quyền đòi nợ và một số loại hình TSBĐ khác theo quy định của pháp luật. TSBĐ có thể hình thành từ chính vốn vay hoặc tài sản hiện hữu của khách hàng từ trước khi vay vốn.