CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Công nghệ Hydroisomer Hóa 1. Mục đích, nguyên liệu và sản phẩm Light straight run naptha (LSRN) chỉ ra một phân đoạn có trị số octane thấp, điển hình nằm trong khoảng 65 – 70 RON (research octane number). Sau khi loại bỏ mercaptane, phần phân đoạn nhẹ này có thể được trộn trực tiếp với gasoline để tạo xăng thương phẩm.
Tuy nhiên, sau đó phải bổ sung thêm chì để tăng trị số octane của hỗn hợp xăng thu được. Đó là cách làm của mấy thập kỷ trước. Với yêu cầu của thị trường hiện nay, ngành công nghiệp dầu khí cũng phát triển tương thích để đáp ứng yêu cầu của nó. Hiện nay, do vấn đề ô nhiễm môi trường, xăng không chì không được sử dụng nữa.
Với việc giảm hàm lượng chì xuống đến mức vết (ppb) (ASTM D 3831) đòi hỏi các quá trình chế biến để tăng phẩm cấp của phần nhẹ (LSRN) được trộn vào xăng phải phát triển hơn nữa. Quá trình đó gọi là đồng phân hóa (quá trình isomer hóa), sản phẩm của quá trình đáp ứng được yêu cầu đặc biệt như không aromatic, benzene, sulfurs hoặc olefin. Trị số octane – Do hàm lượng parafin cao trong nguyên liệu đầu, nên quá trình isomer giúp cải thiện đáng kể trị số octane của sản phẩm thu được. Hỗn hợp nC5/C6 của nguyên liệu có trị số octane 45 – 60, sau quá trình isomer hóa, sản phẩm thu được có thể tăng trị số octane lên 89 – 93.
Điều này đã cải thiện đáng kể được trị số octane của phần nhẹ có trong xăng khi khởi động nguội ban đầu. Không có sản phẩm Aromatic – Đặc trưng của phản ứng đồng phân hóa là chuyển hóa các parafin mạch thẳng thành mạch nhánh nhờ cơ chế phản ứng ion cacboni. Vì vậy, sản phẩm aromatic hoàn toàn không được tạo thành trong quá trình phản ứng. Hơn nữa, trong quá trình phản ứng dưới điều kiện hydro (quá trình hydroisomer hóa), thì sản phẩm tạo thành không có điều kiện tồn tại ở dạng vòng aromatic.
Không sulfurs hoặc olefin – Sản phẩm tạo thành của quá trình isomer, nhờ nguồn nguyên liệu đầu từ phần nhẹ của quá trình chưng cất dầu thô, nên các phần metyl Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 12 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS. Phạm Thanh Huyền mecraptane dễ dàng bị khử và loại bỏ đặc biệt trong môi trường có hydro. Khi đó các olefin cũng không có điều kiện tạo thành và tồn tại. Cơ sở hóa học của quá trình Xúc tác để isomer hóa parafin thành iso – parafin được chia làm 2 loại: (1) xúc tác friedel-crafts với thành phần chính là AlCl3/HCl hoặc (2) xúc tác lưỡng chức năng hydro isomer hóa.
Nhìn chung, khi thực hiện với loại xúc tác nào, phản ứng cũng tiến hành theo cơ chế ion cacboni. Lấy ví dụ cho phản ứng isomer hóa n-pentane: 1 Đối với phản ứng xúc tác friedel-crafts, trong quá trình phản ứng có sự có mặt của các olefin hoặc alkyl halides như là các ion cacboni trong giai đoạn khơi mào, sau đó là quá trình phát triển mạch. Trong gian đoạn khơi mào, cần sự có mặt của một lượng nhỏ của olefin để phản ứng với HCl hoặc HAlCl4. Hàm lượng olefin có mặt do sự tồn tại ở dạng vết có trong nguồn nguyên liệu đầu hoặc phản ứng cracking của parafin.
2 Ion cacboni được tạo thành ở giai đoạn khơi mào tiếp tục tiến hành quá trình isomer hóa: 3 Quá trình định hướng lại ion cacboni tiếp tục diễn ra tạo thành mạch nhánh: Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 13 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS. Phạm Thanh Huyền 4 Ở giai đoạn cuối, quá trình chuyển mạch xảy ra, hình thành phân tử iso parafin và 1 gốc ion cacboni mới: 5 Đó là cơ chế có thể xảy ra khi sử dụng xúc tác friedel-crafts, đối với xúc tác lưỡng chức hydro isomer hóa, quá trình có thể xảy ra như sau: Dưới tác dụng của xúc tác lưỡng chức năng, quá trình tạo thành olefin như là một giai đoạn trung gian dưới tác dụng của xúc tác có thành phần kim loại, chẳng hạn Pt. 6 Khi đó, chức năng axit có trong xúc tác, xúc tác cho phản ứng hình thành ion cacboni trên các olefin được hình thành. Phản ứng này giống như phản ứng (2) của xúc tác friedel-crafts.
7 Sau đó, quá trình tiến hành tương tự để tạo thành mạch nhánh: 8 Sau đó, phản ứng tại tạo thành hợp chất axit bằng cách: 9 Cuối cùng, là phản ứng kết hợp với hydro để tạo thành hợp chất iso paraffin: Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 14 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS. Phạm Thanh Huyền 10 Nhìn chung, với 2 loại xúc tác, các bước tiến hành cơ chế có khác nhau nhưng đều dựa trên cơ chế ion cacboni. Dưới ảnh hưởng của xúc tác lưỡng chức, các bước dưới tác dụng của xúc tác lưỡng chức hydro isomer dường như chủ động và đạt được hiệu quả cao hơn, hạn chế được tác động của cân bằng đến các bước phản ứng thành phần. Ngoài phản ứng chính và được mong đợi xảy ra trong quá trình chuyển hóa, trong thiết bị phản ứng còn xảy ra nhiều phản ứng phụ khác như sau: - Phản ứng mở vòng naphthene - Phản ứng no hóa benzene - Phản ứng hydrocracking - Phản ứng isomer hóa vòng naphthene Cụ thể: - Phản ứng mở vòng naphthene Trong hỗn hợp nguyên liệu có 2 hợp chất có khả năng tham gia phản ứng mở vòng naphthene bao gồm: Cyclopentane (CP), methyl cyclopentane (MCP) và cyclohexane (CH).
Các phản ứng này được tiến hành trong môi trường hydro tạo thành sản phẩm paraffin tương ứng. Trong điều kiện phản ứng isomer hóa của thiết bị phản ứng, độ chuyển hóa của phản ứng mở vòng naphthene tạo thành parafin từ 20 – 40%. - Phản ứng no hóa benzene Phân xưởng isomer hóa (penex unit) được thiết kế trong điều kiện dòng nguyên liệu có chứa đến 2 %V của benzene. Xúc tác của quá trình penex sẽ tiến hành no hóa benzene thành cyclohexane.
Phản ứng này được tiến hành rất nhanh và xảy ra ngay cả trong điều kiện có nhiệt độ thấp. Phản ứng no hóa benzene không phải là phản ứng cân bằng nên nó độ chuyển hóa của phản ứng là 100%. Nhiệt của phản ứng tạo thành bởi phản ứng no hóa benzene giới hạn bởi lượng benzene có trong nguyên liệu. Do đó, trong điều kiện thực tế thì phân xưởng penex có thể hoạt động bình thường với Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 15 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS.
Phạm Thanh Huyền lượng benzene đến 5%. Chức năng của Pt có mặt trong xúc tác chịu trách nhiệm chính cho phản ứng này. Tuy nhiên, với TSOT của benzene là rất cao (>100) mà lại tạo thành hợp chất cyclohexane (TSOT 84) nên tính tương đối sẽ làm giảm TSOT của phần nguyên liệu. - Phản ứng hydrocracking Phản ứng hydrocraking xảy ra trong thiết bị phản ứng phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu và điều kiện vận hành.
Các hợp chất có phân tử khối càng lớn (chẳng hạn C7+) có xu hướng tạo thành các phân tử nhỏ một cách dễ dàng hơn (50% nC7 có xu hướng này). C5 và C6 cũng có xu hướng tham gia phản ứng hydrocracking, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều. Khi phản ứng isomer hóa C5/C6 đạt cân bằng, phần còn lại cũng có thể tham gia phản ứng cracking. Nếu phản ứng isomer hóa tiến hành ở điều kiện cứng (nhiệt đô, áp suất cao) khi đó phản ứng hydrocracking sẽ làm giảm một lượng sản phẩm của quá trình phản ứng và làm tăng nhiệt phản ứng.
Khi đó, các sản 11 phẩm khi như methane, ethane, propane và butane sẽ thu được cùng với dòng khí hydro. - Phản ứng isomer hóa vòng naphthene Các phản ứng isomer hóa cũng xảy ra giữa hợp chất naphthene và cyclo paraffin. Điển hình là tồn tại cân bằng của phản ứng giữa MCP và CH như sau: 12 Khi nhiệt độ tăng thì tốc độ phản ứng cũng tăng lên. [4] Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 16 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS.
Phạm Thanh Huyền 1. Các thông số công nghệ Quá trình penex được phát triển bởi UOP, thiết kế đặc biệt cho quá trình isomer hóa liên tục cho hỗn hợp n-pentane và n-hexane. Phản ứng được tiến hành trong môi trường áp suất hydro, thiết bị phản ứng có xúc tác cố định, điều kiện vận hành phản ứng thích hợp cho phản ứng isomer hóa và tối thiểu các phản ứng phụ có thể xảy ra như hydrocracking. Sau đây là các thông số công nghệ quan trọng trong quá trình hoạt động.
Nhiệt độ phản ứng Quá trình được thiết kế tối ưu hóa cho giám sát và vận hành. Thiết bị được vận hành ở áp suất trung bình, nhiệt độ thấp (< 199oC) và áp suất riêng phần của hydro thấp. Khi tiến hành phản ứng, nhiệt độ của thiệt bị phản ứng số 1 cao hơn so với nhiệt độ thiết bị phản ứng số 2. Do đó, trong quá trình phản ứng, các phản ứng isomer hóa được xảy ra chủ yếu ở thiết bị phản ứng số 1.
Thiết bị phản ứng số 2 được sử dụng để phản ứng xảy ra triệt để đồng thời cũng đảm bảo là quá trình ứng tiến hành là liên tục. Nhiệt độ thiết bị phản ứng số 1 thông thường đạt 142oC, thiết bị phản ứng số 2 khoảng 139oC. Các thông số này được thay đổi phụ thuộc vào thành phần của nguồn nguyên liệu được sử dụng. Áp suất và tốc độ tuần hoàn khí hydro Các phản ứng trong công nghệ hydroisomer hóa đa phần không sử dụng hydro cho các phản ứng của mình tuy nhiên các phản ứng này vẫn được thực hiện trong môi trường hydro.
Do đặc điểm của phản ứng là phản ứng cân bằng nên sự có mặt của hydro có thể gây lên những tác động có hại và có lợi cho quá trình phản ứng. Nếu áp suất riêng phần của hydro quá cao, sẽ làm giảm tốc độ phản ứng isomer hóa, từ đó độ chuyển hóa giảm xuống. Mặt khác, áp suất riêng phần của hydro cao có thể kéo dài tuổi thọ của tác được sử dụng trong quá trình do làm giảm tác động của quá trình cốc tạo thành trên xúc tác. Học viên: Nguyễn Trọng Thái Trang 17 Luận văn: Mô phỏng công nghệ Isomer hóa GVHD: PGS.
Phạm Thanh Huyền Nếu áp suất riêng phần của hydro thấp, các phản ứng có thể tăng độ chuyển hóa nhưng xúc tác sẽ nhanh chóng phải thay thế và tái sinh. Ngoài đảm bảo thời gian hoạt động xúc tác, tham gia vào một số phản ứng phụ như: phản ứng no hóa benzene hay phản ứng chuyển mạch MCP và CH. Hydro còn có tác dụng tăng độ hoạt hóa của xúc tác bằng cách chuyển hóa hợp chất bổ sung clo (perchloroethylene) thành dạng axit HCl. Chính axit này mới có tác dụng bổ sung tính axit cho xúc tác.