mở đầu cho một làn sóng ca ngợi sự thành công của các nước Đông Nam Á nói chung và Singapore nói riêng. Trong cuốn “Nhiing bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông và Đông Nam A”, do Dinh Trọng Minh dịch, Nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành năm 1999, các tác gia đã tập trung trình bay một số nhân tố cơ bản tạo cơ sở cho sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á mà Singapore được coi là ví dụ tiêu biểu. Một trong những kết luận mà các tác giả đưa ra là “.các nước đang phát triển, với kết quả hoạt động xuất khẩu tốt hơn, sẽ đạt được tăng trưởng kinh tế cao hơn”. Nói cách khác, nhóm tác giả đã ca ngợi mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước Đông Nam A và Singapore, coi đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thành công trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia này trong những thập kỷ vừaqua.
Nguyễn Thị Hiền trong tác phẩm “Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước Đông Nam Á”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ấn hành năm 2002 đã mô tả quá trình phát triển kinh tế xã hội gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của ba nước Philippines, Singapore, và Thailand. Theo tác giả, ba nước Đông Nam A ké trên, đặc biệt là Singapore đã thành công về mặt kinh tế nhờ biết tận dụng những lợi thế so sánh của mình so với phần còn lại của thế giới đề hội nhập vào nền kinh tế khu vực va toàn cầu. Mỗi nước có một lợi thế khác nhau, nhưng điểm chung ở họ là chính phủ đã đưa ra được những chính sách phát triển hợp lý, phát huy được những lợi thế này dé tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đây mạnh xuất khẩu và gặt hái những thành công trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình. Lê Bàn Thạch và Trần Thị Tri trong cuốn “Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nhà xuất bản thế giới 2000) đã đánh giá rất tỉ mỉ các bước, các giai đoạn quá trình CNH của các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs) trong đó đáng chú ý là quá trình CNH của một nước năm trong khu vực Đông Nam Á là Singapore.
Các tác giả đã đánh giá cao nỗ lực của nền kinh tế Đông Nam A này trong quá trình CNH đất nước. Theo các tác giả, mặc dù đây là một quốc gia, vùng lãnh thổ vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, vừa tách ra thành thực thê chính trị độc lập, Singapore gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình CNH do nguồn vốn hạn hẹp, trình độ công nghệ non kém và chưa có được mối quan hệ kinh tế quốc tế rộng rãi, nhưng nhân dân và chính phủ Singapore đã thé hiện một ý chí và quyết tâm lớn trong việc tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, đưa sự nghiệp CNH cua họ di lên bằng những chiến lược, quyết sách quan trọng, phù hợp và họ đã gặt hai được những thành công to lớn. Quá trình CNH được coi là thành công của các NIEs nói chung, Singapore nói riêng đã tạo ra cho các nền kinh tế này một nên tảng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại, cơ cấu kinh tế đã có những chuyên biến rất cơ bản theo hướng hiện đại, đời sống nhân dân vì thế cũng được cải thiện đáng kể, vị thế của các nước trên thế giới đã được khẳng định. Kết luận lại các tác giả này cho rằng sự thành công của các NIEs nói chung, Singapore nói riêng là không thé phủ nhận, rằng “NIEs đã khá thành công trong việc lựa chọn mô hình CNH, trong việc nam bắt nhanh nhạy thời cơ và thách thức, kịp thời điều chỉnh các bước đi chiên lược đê khai thác đây đủ các lợi thê so sánh của đât nước, kết hợp chặt chẽ nguồn lực bên trong và bên ngoài, tao dựng môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi phục vụ cho CNH”.
Phạm Mộng Hoa trong cuốn “Dia lý kinh tế - xã hội các nước ASEAN” do Nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành năm 1999 đã đánh giá quá trình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á (đặc biệt là Singapore) là khá thành công. Từ những nên kinh tế nghèo nàn, lạc hậu khi giành được độc lập hoặc thành lập thể chế chính trị độc lập, các quốc gia Đông Nam Á đã nhanh chóng trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình hoặc cao trên thế giới chỉ sau vài thập niên. Nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, đời sống nhân dân được nâng lên đáng ké. Một bộ phận quan trọng người dân ở các nước này đã thoát khỏi cuộc sống đói nghèo trước đây.
Một số nước như Singapore đã thành công trong việc bảo vệ môi trường trong quá trình CNH. Đạt được những thành tựu này là do các quốc gia Đông Nam A đã không ngừng theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế và đã có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình. Bên cạnh đó các nước này cũng khá thành công trong việc tận dụng những điều kiện quốc tế thuận lợi và vị trí địa chính trị quan trọng của mình để thu hút đầu tư, công nghệ nước ngoài phục vụ mục tiêu CNH của mình. Tác giả Dương Hồng Nhung trong bài viết “CNH hướng vào xuất khẩu của Singapore và dau tư trực tiếp của Nhật Ban” đã cho rang, thực tế cho thấy, viện trợ và FDI là một trong những yếu tố dẫn đến thành công trong tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Nam Á.
Theo Dương Hồng Nhung, “Singapore đã xác định đúng chiến lược kinh tế và cũng năm được đúng thời cơ để thực hiện chiến lược đó, chiến lược “CNH hướng về xuất khâu” xét trên cả phạm vi quốc tế và khu vực”. Những khoảng trồng rút ra từ tong quan Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã mô tả và đưa ra lý giải khá đa dạng, nhiều mặt của những thành công cũng như chưa thành công của mô hình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung và Singapore nói riêng, tuy nhiên có thể nhận thấy vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về những bài học không chỉ thành công mà còn các kinh nghiệm không thành công của Singapore cho Việt Nam. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay thế giới đã có nhiều đối thay. Tinh hình không cho phép chúng ta sao chép nguyên si những gi mà các nước Đông Nam A nói chung va Singapore đã trải qua.
Đúng như Haughton (1994) nhận định “Nhd nông khôn ngoan ngày nay biết rang cần phải học tập, chứ không phải sao chép mọi chỉ tiết kinh nghiệm của các nhà nông đã thành công nhất trong khu vực ”. Từ những nghiên cứu nêu trên cũng có thé thay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập về mô hình phát triển kinh tế của Singapore, đánh giá đầy đủ những thành công, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm trả lời chính xác cho câu hỏi: đâu là mô hình dé Việt Nam có thé học tập. Nghiên cứu này vì thế được tiến hành dé giải quyết van đề nêu trên. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn mô hình phát triển kinh - Or» Trên thực tế mỗi quốc gia đều tim cho mình một con đường phát triển riêng dựa trên hoàn cảnh cụ thé của đất nước về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Trong hơn 30 năm đổi mới và phát triển vừa qua, Việt Nam đã thu được những thành tựu rất có ý nghĩa trong thúc đây tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người dan,. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự thành công của Việt Nam thời gian qua nhưng có lẽ nguyên nhân bao trùm nhất, tổng quát nhất mà không ai có thé phủ nhận là sự chuyên đổi mô hình phát triển kinh tế-xã hội từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn với “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Tuy vậy, mô hình đó những năm gần đây cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định như “đã để mô hình phát triển theo chiều rộng quá lâu”. Dé khắc phục hạn chế này, dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 đã chỉ ra rằng trong những năm tới chúng ta phải thay đổi mô hình phát triển.
Điều này cho thấy, dé có thé tránh được nguy cơ tụt hậu, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, phát triển bền vững, Việt Nam trong những năm tới, cần hoàn thiện mô hình phát triển đất nước. Dé làm rõ cơ sở cho việc đánh giá mô hình kinh tế của Singapore, rút ra bài học cho Việt Nam, trên cơ sở đó tìm tòi, lựa chọn mô hình phát triển mới của Việt Nam, luận văn tập trung trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về mô hình phát triển kinh tế đã ton tại trên thế giới. Khái niệm về phát triển kinh tế 1. Khái niệm Có thé nói, phát triển kinh tế là mục tiêu của tất cả các quốc gia dân tộc trên toàn thé giới.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nên kinh tế. Nó bao gom sự tăng trưởng kinh tế và dong thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc song. Nhu vậy, su phát triển của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội. Sự gia tăng về kinh tế còn được gọi là sự tăng trưởng kinh tế là sự tang thêm về quy mô sản lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là tăng trưởng kinh tế. Dé biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP hay GDP. Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó. Khi đo lường sự tăng trưởng, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Một là: Mức tăng trướng tuyệt doi - Theo tổng sản phẩm (GNP hay GDP) của nền kinhté: AYn =Yn -Ÿn -1 Trong đó: AYy : tong sản pham tăng thêm của năm so với năm liền kề trước đó (n-]).