chương 1 của đề tài này trình bày cơ sở lý thuyết về điện não đồ và cảm xúc. Phần đầu của chương trình bày cơ sở sinh lý thần kinh của điện não, phân loại các dạng sóng điện não dựa vào tần số, các loại nhiễu ảnh hưởng đến tín hiệu điện não. Phần tiếp theo trình bày về cảm xúc của con người, mối quan hệ giữa cảm xúc và tín hiệu điện não. Từ đó là cơ sở cho việc nhận biết và phân loại cảm xúc dựa trên tín hiệu điện não.1 Cơ sở lý thuyết về điện não đồ 1.1 Cơ sở sinh lý thần kinh của điện não 1.1 Hoạt động thần kinh Cấu tạo của hệ thần kinh trung ương bao gồm: Tế bào thần kinh (sợi trục, sợi nhánh, thân tế bào) và Tế bào thần kinh đệm.
Các hoạt động trong hệ thống thần kinh trung ương chủ yếu liên quan đến các dòng synap được chuyển qua các điểm nối (gọi là khớp thần kinh) của các sợi trục và đuôi gai. Điện thế 60 đến 70 mV với cực tính âm có thể được ghi lại dưới màng tế bào. Điện thế này thay đổi với các biến thể trong hoạt động synap: • Nếu một điện thế hoạt động di chuyển dọc theo dây thần kinh, kết thúc ở một khớp thần kinh kích thích, thì một điện thế kích thích sau synap (EPSP) sẽ xuất hiện trong tế bào thần kinh sau. • Nếu kết thúc ở một khớp thần kinh ức chế, thì quá trình siêu phân cực sẽ xảy ra, cho thấy một điện thế ức chế sau khớp thần kinh (IPSP).
Dòng điện chảy qua không gian ngoại bào chịu trách nhiệm trực tiếp tạo ra điện thế trường. Các điện thế trường này, thường có tần số dưới 100 Hz, được gọi là điện não đồ khi không có thay đổi về trung bình tín hiệu và có thể che được các 3 tín hiệu EEG thực tế. Sự kết hợp của điện thế EEG và DC thường được quan sát thấy đối với một số bất thường ở não như co giật, tăng CO2 trong máu và gây ngạt.2 Điện thế màng tế bào Điện thế màng là sự khác biệt về điện thế giữa bên trong và bên ngoài của một tế bào sinh học. Sự chênh lệch hiệu điện thế giữa 2 bên màng tế bào khi tế bào không bị kích thích, phía bên trong màng mang điện âm so với bên ngoài màng mang điện dương được gọi là điện thế nghỉ.
Điện thế hoạt động là sự thay đổi điện thế của mang khi bị kích thích so với lúc nghỉ, và được dẫn truyền dọc theo màng. • Điện thế nghỉ Điện thế nghỉ chủ yếu được hình thành do 3 yếu tố sau: o Sự phân bố ion ở hai bên màng tế bào và sự di chuyển của các ion qua màng tế bào. o Tính thấm có chọn lọc của màng tế bào đối với ion. • Điện thế hoạt động Thông tin được truyền bởi một dây thần kinh được gọi là điện thế hoạt động.
Điện thế hoạt động là do sự trao đổi ion qua màng nơron và là sự thay đổi điện thế tạm thời của màng được truyền dọc theo sợi trục. Nó thường được bắt đầu trong thân tế bào và thường di chuyển theo một hướng. Điện thế hoạt động của hầu hết các dây thần kinh kéo dài từ 5 đến 10 mili giây. Vận tốc dẫn truyền điện thế hoạt động nằm trong khoảng từ 1 đến 100 m /s.
Điện thế hoạt động được bắt đầu bởi nhiều loại kích thích khác nhau; các dây thần kinh cảm giác phản ứng với nhiều loại kích thích, chẳng hạn như hóa học, ánh sáng, điện, áp lực, xúc giác và kéo căng. Mặt khác, các dây thần kinh trong hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) hầu hết được kích thích bởi hoạt động hóa học 4 tại các khớp thần kinh. Kích thích phải trên mức ngưỡng để kích hoạt Điện thế hoạt động. Các kích thích rất yếu gây ra nhiễu loạn điện cục bộ nhỏ, nhưng không tạo ra Điện thế hoạt động truyền qua.
Ngay sau khi cường độ kích thích vượt quá ngưỡng, một điện thế hoạt động xuất hiện và truyền xuống dây thần kinh. 1: Ví dụ về điện thế hoạt động Các giai đoạn của điện thế hoạt động: • Giai đoạn khử cực: khi màng bị kích thích, tính thấm của màng đối với ion Na+ tăng rất cao, các kênh Natri mở ra, các ion Na+ đi vào bên trong tế bào, trạng thái cực hóa bị mất, điện thế màng trở nên bớt âm hơn. Khi điện thế màng tăng đến -70 mV (hoặc tới -50 mV tùy từng cơ quan) gây mở đột ngột cổng hoạt hóa của kênh Natri, các ion Na+ ùa qua kênh vào trong tế bào. Lúc này tính thấm của màng đối với ion Na+ tăng 500 đến 5000 lần.
Ion Na+ vào trong tế bào làm điện thế từ -90 mV tăng lên 0 mV. Hiện tượng này được gọi là khử cực (depolarization). Ở các sợi thần kinh lớn hoặc các sợi cơ vân, điện thế còn đạt trị số (+) (gọi là hiện tượng “quá đà”). Ở các sợi thần kinh nhỏ và nhiều nơron của hệ thần kinh, điện thế đỉnh hiếm khi tăng lên đến 0 mV và không bao giờ đạt trị số (+).
Trạng thái này kéo dài vài phần vạn giây. 5 • Giai đoạn tái cực: vài phần vạn giây sau khi màng tăng vọt tính thấm với ion Na+ thì kênh Natri bắt đầu đóng lại. Lúc này kênh Kali mở rộng ra, ion K+ khuếch tán ra ngoài, làm mặt trong màng bớt dương hơn, rồi lại trở nên âm hơn mặt ngoài như trong trạng thái nghỉ. Vì vậy giai đoạn này được gọi là giai đoạn tái cực (Repolarization) và điện thế nghỉ của màng được tái tạo lại với trị số -90 mV.
Giai đoạn này cũng kéo dài vài phần vạn giây (dài hơn giai đoạn khử cực vì kênh K+ mở từ từ hơn). • Giai đoạn ưu phân cực: Do sự mở các kênh Kali chậm hơn và vẫn tiếp tục mở trong vài mili giây sau khi điện thế hoạt động chấm dứt, nên sau giai đoạn tái cực, điện thế màng không chỉ trở về mức điện thế lúc nghỉ (-90 mV) mà còn âm hơn nữa (có thể tới khoảng -100 mV), sau đó mới trở về mức bình thường. Vì vây giai đoạn này được gọi là giai đoạn ưu phân cực. 2 Cơ chế hình thành điện thế hoạt động Sự lan truyền điện thế hoạt động: • Cơ chế của lan truyền điện thế hoạt động: là sự tạo nên một “mạch điện” tại chỗ, giữa vùng đang khử cực và phần màng ở vùng tiếp giáp.
Ở tế bào thần kinh, điện thế hoạt động lan truyền dọc sợ trục, làn sóng lan truyền được gọi là “xung động thần kinh”. 6 • Hướng lan truyền: từ chỗ phát sinh, điện thế hoạt động lan theo hai chiều trên sợi trục của tế bào thần kinh và chỉ lan theo một chiều qua synap thần kinh, synap thần kinh – cơ hoặc synap thần kinh – tế bào đích. Vì vậy, trên thực tế, hướng lan truyền của điện thế hoạt động trong cơ thể chỉ đi theo một chiều, hoặc từ ngoại vi về trung tâm (nếu là dẫn truyền xung động cảm giác), hoặc từ trung tâm ra ngoại vi (nếu là dẫn truyền xung động vận động).2 Sự hình thành tín hiệu điện não Tín hiệu EEG là một phép đo dòng chảy trong quá trình kích thích synap của các sợi nhánh của nhiều tế bào thần kinh hình chóp trong vỏ não. Khi các tế bào thần kinh của não được kích hoạt, các dòng synap được tạo ra trong các sợi nhánh.
Dòng điện này tạo ra trường từ tính có thể đo được bằng máy điện cơ (EMG) và năng lượng điện thứ cấp trên da đầu có thể đo được bằng các hệ thống EEG. Sự khác biệt của điện thế được gây ra bởi các điện thế được phân loại sau synap từ các tế bào hình chóp tạo ra các lưỡng cực điện giữa soma (cơ thể của một tế bào thần kinh) và đuôi gai, phân nhánh từ các tế bào thần kinh (Hình 1. Dòng điện trong não được tạo ra chủ yếu bằng cách bơm các ion dương natri, Na +, kali, K +, canxi, Ca ++ và ion âm của clo, Cl−, qua màng tế bào thần kinh theo hướng chi phối bởi điện thế màng. 3 Cấu trúc của một tế bào thần kinh Đầu người bao gồm các lớp khác nhau bao gồm da đầu, hộp sọ, não (Hình 1.5), và nhiều lớp mỏng khác ở giữa.
Hộp sọ làm suy giảm tín hiệu nhiều hơn khoảng một trăm lần so với mô mềm. Mặt khác, hầu hết nhiễu được tạo ra trong 7 não (nhiễu bên trong) hoặc trên da đầu (nhiễu hệ thống hoặc nhiễu bên ngoài). Do đó, chỉ có một số lượng lớn các tế bào thần kinh hoạt động mới có thể tạo ra đủ điện thế để có thể ghi lại được bằng cách sử dụng các điện cực da đầu. Những tín hiệu này sau đó được khuếch đại rất nhiều cho mục địch hiển thị.
Khoảng 1011 tế bào thần kinh được phát triển khi mới sinh khi hệ thống thần kinh trung ương (CNS) trở nên hoàn thiện và hoạt động. Điều này tạo ra trung bình 104 tế bào thần kinh trên mỗi mm khối. Các tế bào thần kinh liên kết với nhau thành lưới thần kinh thông qua các khớp thần kinh. Người lớn có khoảng 5 × 1014 khớp thần kinh.
Số lượng khớp thần kinh trên mỗi tế bào thần kinh tăng lên theo tuổi, trong khi số lượng tế bào thần kinh giảm dần theo tuổi. 4 Các thành phần chinh của bộ não (gồm điện trở suất và độ dày gần đúng của chúng) Theo quan điểm giải phẫu, não có thể được chia thành ba phần: đại não, tiểu não và thân não (Hình 1. Đại não bao gồm cả thùy não trái và phải với các lớp bề mặt rất phức tạp được gọi là vỏ não.Đại não bao gồm các khu vực để bắt đầu chuyển động, nhận thức có ý thức về cảm giác, phân tích phức tạp và biểu hiện cảm xúc và hành vi. Tiểu não điều phối các chuyển động tự nguyện của các cơ và duy trì sự cân bằng.
Thân não kiểm soát các chức năng không tự chủ như hô hấp, điều hòa tim, nhịp sinh học, và các phần hormone và hormone thần kinh.