Luận văn: Mô hình hóa và mô phỏng trượt đất gây ra do mưa (ĐH Công nghệ - ĐHQGHN)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mô hình hóa và mô phỏng trượt đất gây ra do mưa, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU

1. Chương 1: THỰC TRẠNG CẢNH BÁO TRƯỢT ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tới trượt đất

1.1.1. Khái niệm và một số dạng trượt lở đất chủ yếu

1.1.2. Nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến trượt đất

2. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TÍNH TOÁN

2.1. Cơ sở lý thuyết của các phương pháp tính ổn định mái dốc trong chương trình phần mềm SLOPE/W

2.2. Mái dốc và ổn định mái dốc

2.3. Phương trình cân bằng của khối đất trượt

2.4. Các giả thiết tính toán

2.5. Hệ số an toàn cân bằng momen

2.6. Hệ số an toàn cân bằng lực

2.7. Các phương pháp tính ổn định mái dốc

2.8. Phương pháp cân bằng giới hạn tổng quát

2.9. Phương pháp của K

2.10. Phương pháp của A

2.11. Phương pháp của Nichiprovich

2.12. Phương pháp của G

2.13. Phương pháp dựa trên lý thuyết độ ẩm

2.14. Phương pháp phân tích thấm trong chương trình phần mềm SEEP/W

2.15. Định luật về thấm và các phương trình cơ bản

3. Chương 3: THIẾT KẾ VÀ MÔ HÌNH HÓA, MÔ PHỎNG TRƯỢT ĐẤT GÂY RA DO MƯA DÙNG PHẦN MỀM GEO-SLOPE

3.1. Các thông số kỹ thuật

3.2. Trình tự thực hiện mô phỏng

3.2.1. Thực hiện mô phỏng SEEP/W

3.2.2. Thực hiện mô phỏng SLOPE/W

3.3. Kết quả mô phỏng

3.3.1. Kết quả chạy mô phỏng qua phần mềm SEEP/W với q = 1. Véc tơ tốc độ và các đường thấm

3.3.2. Đồ thị áp lực lực nước lỗ rỗng

3.3.3. Các đường đẳng trị áp lực nước lỗ rỗng

3.3.4. Kết quả chạy mô phỏng qua phần mềm SEEP/W với q = 3. Véc tơ tốc độ và các đường thấm

3.3.5. Đồ thị áp lực lực nước lỗ rỗng

3.3.6. Các đường đẳng trị áp lực nước lỗ rỗng

3.3.7. Kết quả chạy mô phỏng qua phần mềm SLOPE/W

3.3.8. Các kết quả chạy phần mềm mô phỏng SLOPE/W khi thay đổi lưu lượng mưa q

3.3.9. Bảng tổng hợp kết quả khi thay đổi lưu lượng mưa q

3.4. Tích hợp mô hình mô phỏng với WS3000

3.4.1. Sơ đồ tích hợp mô hình mô phỏng với thiết bị WS-3000

3.4.2. Thiết bị đo WS-3000

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Hóa Trượt Đất Do Mưa Luận Văn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan, trượt đất do mưa trở thành một vấn đề nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của người dân. Mô hình hóa sạt lở đất là một công cụ quan trọng để dự báo trượt đất và giảm thiểu rủi ro. Luận văn thạc sĩ về mô hình hóa trượt đất do mưa đóng vai trò then chốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp dự báo tiên tiến. Nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã và đang tiến hành các dự án, đề tài về cảnh báo trượt lở đất. Theo thống kê, chỉ trong thời gian từ năm 2000 đến nay đã có hàng trăm vụ trượt lở đất lớn nhỏ xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới gây thiệt hại nghiêm trọng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Trượt Đất Do Mưa

Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa đến trượt đất có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ cơ chế gây trượt đất và phân tích độ ổn định mái dốc. Các kết quả nghiên cứu giúp cải thiện độ chính xác của các phương pháp mô hình hóa trượt đất. Việc cảnh báo trượt lở kịp thời có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm thiểu những thiệt hại. Chính vì vậy các nước trên thế giới, trong đó có Việt nam đã và đang tiến hành những dự án, đề tài về cảnh báo trượt lở đất.

1.2. Các Loại Hình Trượt Lở Đất Chủ Yếu và Phân Loại

Trượt đất là hiện tượng và quá trình dịch chuyển một phần đất so với phần kia theo một bề mặt, do sự mất cân bằng về trọng lượng. Theo dạng chuyển động, Varnes D.J, [17] chia làm 5 nhóm chính (bảng 1.1), như: sập lở, lật, trượt, ép trồi và chảy - trượt dòng. Loại thứ 6 là loại trượt phức tạp.

II. Thách Thức Trong Mô Hình Hóa và Dự Báo Trượt Đất

Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc mô hình hóa trượt đất vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như địa hình phức tạp, biến đổi khí hậu, và dữ liệu đầu vào không đầy đủ gây khó khăn cho việc xây dựng các mô hình chính xác. Để xác định tình trạng và đưa ra những cảnh báo trượt lở đất chính xác, chúng ta cần phải mô phỏng được hiện tượng trượt đất gây ra do các yếu tố tác động, trong đó có trượt đất gây ra do mưa. Trên cơ sở đó, nội dung nghiên cứu thực hiện trong luận văn này trình bày về mô phỏng và mô hình hóa hiện tượng trượt đất gây ra do mưa phục vụ các hệ thống cảnh báo trượt lở đất.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Độ Chính Xác Của Mô Hình

Đặc điểm địa chất (địa tầng, kiến tạo, đứt gãy, nứt nẻ, chỉ tiêu cơ lý của đất đá, đặc điểm nước dưới đất, các quá trình và hiện tượng địa chất động lực công trình.) và khí tượng thủy văn. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm làm tăng tốc độ phong hóa của đất đá ở bề mặt bờ dốc, do đó làm giảm độ bền của đất đá.

2.2. Giới Hạn Của Dữ Liệu Đầu Vào cho Mô Hình Trượt Đất

Dữ liệu đầu vào không đầy đủ hoặc không chính xác là một trong những thách thức lớn nhất trong mô hình hóa trượt đất. Việc thu thập dữ liệu về địa hình, địa chất, thủy văn, và lượng mưa đòi hỏi nguồn lực lớn và công nghệ hiện đại.

III. Phương Pháp Mô Hình Hóa Trượt Đất Do Mưa Hướng Dẫn

Có nhiều phương pháp mô hình hóa trượt đất khác nhau, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng. Các phương pháp phổ biến bao gồm mô hình thống kê, mô hình vật lý, và mô hình số. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự ổn định của sườn dốc là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và nhân tạo có tác dụng hỗ trợ cho quá trình phá hoại sự cân bằng của khối đất đá xảy ra được dễ dàng [3]. Trong những trường hợp thường gặp nhất các yếu tố này này có thể bao gồm các yếu tố tự nhiên, như đặc điểm địa chất (địa tầng, kiến tạo, đứt gãy, nứt nẻ, chỉ tiêu cơ lý của đất đá, đặc điểm nước dưới đất, các quá trình và hiện tượng địa chất động lực công trình.), các điều kiện địa lý tự nhiên (địa hình, địa mạo, khí tượng, thủy văn.), các yếu tố thời gian và các yếu tố nhân sinh (phá rừng, các loại ngoại lực do con người tác dụng lên sườn dốc, mức độ đúng đắn của phương án thiết kế, công nghệ và tiến độ thi công bờ dốc nhân tạo.

3.1. Mô Hình Thống Kê Ưu Nhược Điểm và Cách Ứng Dụng

Mô hình thống kê dựa trên việc phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và sự xuất hiện của trượt đất. Phương pháp này đơn giản và dễ thực hiện, nhưng độ chính xác thường không cao.

3.2. Ứng Dụng Phần Mềm Geo Slope Trong Mô Hình Hóa

Phần mềm mô hình hóa trượt đất Geo-Slope là một công cụ mạnh mẽ để phân tích độ ổn định mái dốc. Phần mềm này cung cấp nhiều phương pháp phân tích khác nhau và cho phép người dùng tùy chỉnh các tham số đầu vào.

IV. Ứng Dụng Mô Hình Hóa Bản Đồ Nguy Cơ Trượt Đất

Ứng dụng mô hình hóa trượt đất để xây dựng bản đồ nguy cơ trượt đất là một công cụ quan trọng để quản lý rủi ro và quy hoạch sử dụng đất. Bản đồ nguy cơ trượt đất cung cấp thông tin về các khu vực có khả năng xảy ra trượt đất cao, giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định phù hợp. Các nghiên cứu về trượt lở đất ở Việt Nam mới chỉ áp dụng trên diện rộng, tỷ lệ nhỏ, chủ yếu phân vùng dự báo định tính, còn rất thiếu các công trình điều tra đủ chi tiết để hỗ trợ hiệu quả hơn công tác quy hoạch, cảnh báo nguy cơ và chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

4.1. Xây Dựng Bản Đồ Nguy Cơ Trượt Đất Hiệu Quả

Để xây dựng bản đồ nguy cơ trượt đất hiệu quả, cần thu thập đầy đủ dữ liệu đầu vào, lựa chọn phương pháp mô hình hóa phù hợp, và kiểm định kết quả bằng dữ liệu thực tế.

4.2. Sử Dụng GIS Trong Phân Tích Nguy Cơ Trượt Đất

GIS trong mô hình hóa trượt đất cho phép tích hợp và phân tích các dữ liệu không gian khác nhau, giúp xây dựng bản đồ nguy cơ trượt đất chính xác và trực quan.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Kiểm Định Mô Hình Trượt Đất Do Mưa

Các kết quả nghiên cứu về độ nhạy của mô hình trượt đấtkiểm định mô hình trượt đất cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn các tham số đầu vào phù hợp và sử dụng dữ liệu thực tế để đánh giá độ chính xác của mô hình. Việc kiểm định mô hình là bước quan trọng để đảm bảo rằng mô hình có thể dự báo trượt đất một cách đáng tin cậy. Một mô hình ví dụ đã được dùng để kiểm tra quá trình thay đổi hệ số ổn định trong quá trình mưa. Kết quả nghiên cứu là nền tảng để giải thích quá trình mất ổn định mái dốc do mưa giúp cho công tác cảnh báo khu vực dễ mất ổn định khi mưa cũng như giúp cho công tác phòng chống trượt lở đất an toàn.

5.1. Đánh Giá Độ Nhạy Của Mô Hình với Các Yếu Tố Đầu Vào

Phân tích độ nhạy giúp xác định các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả mô hình, từ đó tập trung vào việc thu thập và xử lý dữ liệu cho các yếu tố này.

5.2. Phương Pháp Kiểm Định Mô Hình So Sánh với Dữ Liệu Thực Tế

So sánh kết quả mô hình với dữ liệu thực tế là phương pháp kiểm định phổ biến. Các chỉ số thống kê như độ chính xác, độ nhạy, và độ đặc hiệu được sử dụng để đánh giá hiệu quả của mô hình.

VI. Hướng Phát Triển Tương Lai Trong Mô Hình Hóa Trượt Đất

Trong tương lai, học máy trong mô hình hóa trượt đấtmô hình hóa theo thời gian thực trượt đất sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng dự báo và quản lý rủi ro trượt đất. Các phương pháp này cho phép xử lý dữ liệu lớn và dự báo trượt đất một cách nhanh chóng và chính xác. Tuy nhiên do thời gian có hạn nên bản luận văn này chưa thể đề cập được đầy đủ mọi vấn đề liên quan, và chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót.

6.1. Ứng Dụng Học Máy để Cải Thiện Độ Chính Xác

Học máy có thể được sử dụng để huấn luyện các mô hình dự báo trượt đất dựa trên dữ liệu lịch sử, từ đó cải thiện độ chính xác và khả năng dự báo các sự kiện trượt đất trong tương lai.

6.2. Mô Hình Hóa 3D và Theo Thời Gian Thực để Cảnh Báo

Mô hình hóa trượt đất 3D cung cấp cái nhìn trực quan và chi tiết về địa hình, giúp phân tích độ ổn định mái dốc chính xác hơn. Mô hình hóa theo thời gian thực cho phép theo dõi sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra cảnh báo sớm khi có nguy cơ trượt đất.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trượt lở đất là một trong những loại hình thiên tai phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam. Ba phần tư lãnh thổ Việt Nam thuộc khu vực miền núi, có địa hình sườn dốc cao, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội chưa được qui hoạch hợp lý, nên các hiện tượng trượt lở đất, lũ bùn đá và lũ quét thường xảy ra. Những năm gần đây, các loại hình thiên tai này xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng tăng, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cả về người và tải sản. Theo thống kê, chỉ trong thời gian từ năm 2000 đến nay đã có hàng trăm vụ trượt lở đất lớn nhỏ xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới gây thiệt hại nghiêm trọng.

Điển hình như vụ trượt lở đất vào ngày 9 tháng 11 năm 2001 ở đồi Amboori, bang Kerala nằm ở miền Nam của Ấn độ gây hậu quả 40 người bị chết. Hay vụ lở đất bất thường có quy mô lớn với khối lượng đất đá khoảng 200 triệu m3, chiều rộng khoảng 1.600m, và chiều cao khoảng 750 m đã xảy ra vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, vào lúc 13:45 giờ địa phương, trên bức tường dốc của miệng núi lửa trên sườn phía tây bắc núi Bawakaraeng (có độ cao 2830m) ở đầu nguồn sông Jeneberang, phía Nam Sulawesi, Indonesia. Các mảnh vỡ lở kéo dài khoảng 7 km từ đầu nguồn và chôn vùi các thung lũng, sông ngòi và nhà cửa, hậu quả là 32 người đã bị chết. Vào ngày 10 tháng 1 năm 2005, một vụ lở đất xảy ra ở La Conchita, bang California, Mỹ đã phá hủy hoàn toàn 36 ngôi nhà và giết chết 10 người.

Ngày 17 tháng 2 năm 2006, một vụ trượt lở nghiêm trọng khác đã xảy ra ở đảo Leyte, Philippin, vụ trượt lở bắt nguồn từ một dốc đứng cao 450m, một khối rừng lớn trượt lở và quét xuống phía dưới khu thung lũng sông Himbungao, nơi tập trung dân cư đông đúc. Vụ trượt lở gây thảm họa vô cùng nghiêm trọng, chôn vùi toàn bộ ngôi làng Guinsaugon, hậu quả hơn 1100 người đã bị chết. Tháng 6 năm 2007, ở thành phố Chittagong, Bangladesh, một vụ sạt lở đất đá tương tự đã xảy ra, nguyên nhân do việc cắt xén bừa bãi các ngọn đồi làm gia tăng nguy cơ trượt lở, dẫn đến sự biến mất của hàng trăm ngọn đồi, gây ô nhiễm môi trường và đã giết chết ít nhất 120 người dân sống ở khu vực lân cận. Năm 2010, một số nước như Pakistan, Bồ Đào Nha, Uganda, TỐNG ANH ĐỨC – K19 ĐTVT Trang 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung Quốc và Canada cũng xảy ra các vụ trượt lở đất gây thiệt hại về cả người và tài sản.

Chỉ tính riêng trong năm 2014, thế giới đã có 5 vụ trượt lở đất nghiêm trọng, đầu tiên là vụ trượt lở đất ngày 22 tháng 3 xảy ra ở Oso, Washington, nước Mỹ gây ra cái chết cho 43 người dân thường. Ngày 2 tháng 5, một vụ trượt lở đất khác xảy ra ở Badakhshan, một tỉnh miền Đông Bắc Afghanistan, hậu quả là chôn vùi toàn bộ ngôi làng, khoảng 500 người đã thiệt mạng và 4000 người phải di chuyển đi nơi khác sinh sống. Sau đó, vào ngày 30 tháng 7, một vụ trượt lở đất đá khác đã xảy ra ở quận Pune, bang Maharashtra, Ấn độ gây hậu quả cuốn trôi hơn 50 ngôi nhà, 136 người đã thiệt mạng và hơn 100 người bị mất tích. Ngày 2 tháng 8, một vụ trượt lở đất tồi tệ ở Nepal đã gây hậu quả làm chết hơn 156 người.

Ngày 20 tháng 8, tại tỉnh Hiroshima, Nhật Bản, một vụ trượt lở đất cũng đã tấn công một khu dân cư, làm cho các ngôi nhà bị chôn vùi dưới lớp bùn đất và đá. Ít nhất đã có 32 người bị thiệt mạng và nhiều người khác bị mất tích. Trượt lở đất là một nguy cơ liên tục ở vùng miền núi, phía đông Nhật Bản, nơi có nhiều ngôi nhà được xây dựng trên hoặc gần các sườn dốc, và có lượng mưa lớn hàng năm. Gần đây nhất là vụ trượt lở đất ngày 27 tháng 8 tại làng Yingping ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc.

Hậu quả là 77 ngôi nhà đã sập hoặc bị chôn vùi hoàn toàn, có 6 người đã thiệt mạng và hơn 20 người vẫn còn mất tích [1]. Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 đến 2014 đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích 646 người, bị thương gần 351 người; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100.000 căn nhà bị ngập, hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế bị hư hỏng nặng nề, tổng thiệt hại ước tính trên 3. Các tỉnh thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất nhất gồm: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Cạn, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Thuận [2]. Một số trận sạt lở đất điển hình trong những năm qua như sau: - Sạt lở đất núi tại tỉnh Lào Cai năm 2004 đã làm 22 người chết và mất tích và 16 người bị thương, trong đó có hộ cả gia đình thiệt mạng.

- Lũ, lũ quét, sạt lở đất sau bão số 4 và số 6, tại Lào Cai, Yên Bái năm 2008 làm 120 người chết và mất tích. TỐNG ANH ĐỨC – K19 ĐTVT Trang10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Sạt lở đất tại xã Pắc Nậm, Bắc Kạn năm 2009 làm 13 người chết và mất tích, 5 người bị thương. - Sạt lở đất năm 2014: Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 2 và mưa lớn đã xảy ra các trận lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn các tỉnh miền núi (Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Sơn La…) làm chết và mất tích 24 người, trong đó có 2 gia đình ở thị trấn Tam Đường và huyện Hoàng Su Phì bị thiệt mạng tới 5 người trong nhà. Trên thế giới, việc nghiên cứu tai biến địa chất được đầu tư rất sớm, nhiều phương pháp khoa học tiên tiến đã được áp dụng vào công tác dự báo nguy cơ thảm họa trượt lở đất.

Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ được chú trọng khoảng 15 năm gần đây khi thảm họa thiên tai xảy ra thường xuyên hơn. Các nghiên cứu về trượt lở đất ở Việt Nam mới chỉ áp dụng trên diện rộng, tỷ lệ nhỏ, chủ yếu phân vùng dự báo định tính, còn rất thiếu các công trình điều tra đủ chi tiết để hỗ trợ hiệu quả hơn công tác quy hoạch, cảnh báo nguy cơ và chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chính vì vậy việc nghiên cứu trượt đất nói chung và trượt đất do ảnh hưởng của mưa nói riêng là một vấn đề cấp bách và mang tính thời sự. Nội dung được trình bày trong luận văn này nghiên cứu, mô phỏng và mô hình hóa về quá trình trượt đất gây ra do mưa.

Một mô hình ví dụ đã được dùng để kiểm tra quá trình thay đổi hệ số ổn định trong quá trình mưa. Kết quả nghiên cứu là nền tảng để giải thích quá trình mất ổn định mái dốc do mưa giúp cho công tác cảnh báo khu vực dễ mất ổn định khi mưa cũng như giúp cho công tác phòng chống trượt lở đất an toàn. Khái niệm, nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tới trượt đất 1.Khái niệm và một số dạng trượt lở đất chủ yếu Trượt đất là hiện tượng và quá trình dịch chuyển một phần đất so với phần kia theo một bề mặt, do sự mất cân bằng về trọng lượng. Đặc điểm quan trọng của chuyển dịch trượt là không mất sự tiếp xúc giữa phần đất di động và phần đất không di động của sườn hoặc mái dốc.

Bề mặt trực tiếp và phân cách giữa hai phần đó là mặt trượt. TỐNG ANH ĐỨC – K19 ĐTVT Trang11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự dịch chuyển sườn dốc rất đa dạng và có nhiều cách phân loại khác nhau [4,5,15, 17]. Theo dạng chuyển động, Varnes D.J, [17] chia làm 5 nhóm chính (bảng 1.1), như: sập lở, lật, trượt, ép trồi và chảy - trượt dòng. Loại thứ 6 là loại trượt phức tạp.

Phân loại trượt lở chính (theo Varnes D. [17]) Loại đất đá Đất Kiểu chuyển dịch Đá Đất vụn Đất dính rời Sập, sụt đất Sập, sụt Sụt lở (falls) Lở đá vụn rời đất dính Lật khối Lật khối Lật (topples) Lật khối đá đất vụn rời đất dính Có sự xoay (sự dịch chuyển đất Có sự xoay Có sự xoay Có sự xoay đá theo mặt của khối của khối của khối đá cong) đất vụn rời đất dính Ít khối, tảng Dịch Dịch Trượt chuyển Dịch chuyển chuyển (slides) Conxekven từng tảng từng tảng từng tảng (đất đá dịch đất dính của khối đá đất rời theo chuyển theo theo mặt mặt trượt 1 hoặc vài trượt mặt yếu có Dịch Dịch sẵn trong Nhiều Dịch chuyển chuyển của chuyển của khối đất đá) khối, của khối đá khối đất rời khối đất tảng theo mặt yếu theo mặt dính theo trượt mặt trượt Trượt ép trồi (lateral spreads) Dịch chuyển Dịch Dịch của khối đá chuyển của chuyển của TỐNG ANH ĐỨC – K19 ĐTVT Trang12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo một khối đất rời khối đất khối có theo đất dính với sự vùng vò dính với sự ép trồi nhàu và ép ép trồi trồi Dòng chảy Dòng chảy Dòng chảy Trượt dòng (flows) của tảng, của khối của khối khối đá vật liệu rời đất dính Kết hợp 2 hoặc nhiều hơn các kiểu Trượt phức hợp (complex) chuyển dịch trên 1. Nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến trượt đất Nguyên nhân gây trượt có thể hoặc là do độ bền của đất đá bị giảm đi, hoặc là do trạng thái ứng suất ở sườn dốc bị thay đổi, hoặc do cả hai nguyên nhân trên làm cho điều kiện cân bằng của khối đất đá ở sườn dốc bị phá hủy [6, 7]. Một sự cố trượt sẽ xảy ra khi mà thế cân bằng giữa kháng lực của đất đá hình thành trên sườn dốc đối với trọng lực của chúng nghiêng về phía trọng lực.

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự ổn định của sườn dốc là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và nhân tạo có tác dụng hỗ trợ cho quá trình phá hoại sự cân bằng của khối đất đá xảy ra được dễ dàng [3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ