Luận văn: Mô hình Hành trình Ngẫu nhiên Mạng Ad-hoc dùng Bản đồ Số (ĐH Công Nghệ)

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu mô hình hành trình ngẫu nhiên cho mạng di động ad hoc sử dụng bản đồ số. Tối ưu hóa hiệu suất mạng, phân tích định tuyến.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2006

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các hình vẽ

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: MÔ HÌNH DI ĐỘNG RIÊNG LẺ

1.1. Các mô hình di động mạng tế bào

1.2. Mô hình bước ngẫu nhiên - RWM

1.3. Mô hình luồng lưu lượng với vận tốc không đổi - FFM

1.4. Mô hình Markov_Gauss ngẫu nhiên - RGMM

1.5. Các mô hình di động mạng ad-hoc

1.6. Mô hình di động ngẫu nhiên - RMM

1.7. Mô hình di động chiều ngẫu nhiên, vận tốc không đổi

1.8. Mô hình di động điểm định hướng ngẫu nhiên - RWPMM

1.9. Mô hình di động chiều chuyển động ngẫu nhiên - RDMM

1.10. Mô hình di động vùng mô phỏng vô hạn

1.11. Phiên bản xác suất của RMM

1.12. Mô hình di động đường phố, phân vùng và khu vực thành phố

1.13. Phân lớp mô hình di động

1.14. Kết luận chƣơng

2. CHƢƠNG 2: MÔ HÌNH DI ĐỘNG NHÓM

2.1. Các mô hình di động nhóm đơn giản

2.2. Mô hình di động ngẫu nhiên tương quan hàm e mũ

2.3. Mô hình di động theo hàng

2.4. Mô hình di động nhóm du cư

2.5. Mô hình di động truy đuổi

2.6. Mô hình di động nhóm điểm chuẩn - RPGMM

2.7. Mô hình di động theo vị trí

2.8. Mô hình di động đan xen

2.9. Mô hình di động quy ước

2.10. Kết luận chƣơng

3. CHƢƠNG 3: SỰ QUAN TRỌNG CỦA LỰA CHỌN MÔ HÌNH DI ĐỘNG. CHẾ ĐỘ DỪNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH DI ĐỘNG THEO PHƯƠNG PHÁP PALM. MÔ PHỎNG HOÀN HẢO

3.1. Sự quan trọng của lựa chọn mô hình di động

3.2. Chế độ dừng của một số mô hình di động dựa trên phƣơng pháp Palm

3.3. Phương pháp Palm

3.4. Mô hình di động hành trình ngẫu nhiên - RTMM

3.5. Các mô hình di động dùng để lấy mẫu hoàn chỉnh. Mô hình RWPMM. Mô hình RWM (mô hình vec-tơ ngẫu nhiên). Hai mô hình di động thực tế

3.6. Kết luận chƣơng

4. CHƢƠNG 4: CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG NS-2. CÁC KẾT QUẢ MÔ PHỎNG

4.1. Lựa chọn phần mềm mô phỏng

4.2. Thực hiện mô phỏng hoàn hảo

4.3. Các kết quả mô phỏng và bình luận

4.4. Kịch bản mô phỏng và các tham số đánh giá

4.5. Kết quả mô phỏng

4.6. Bình luận kết quả

4.7. Kết luận chƣơng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Mô Hình Hành Trình Ngẫu Nhiên Mạng Ad hoc

Mạng không dây ngày càng trở nên phổ biến nhờ những tiến bộ trong công nghệ. Mạng không dây cho phép người dùng di chuyển tự do mà không bị gián đoạn dịch vụ. Tuy nhiên, mạng không dây cần các trạm cơ sở (BS) nối dây. Mạng ad-hoc, một nhánh của mạng không dây, cho phép tạo mạng không dây mà không cần trạm cơ sở. Tất cả người dùng trong mạng ad-hoc đều chấp nhận chuyển tiếp bản tin đến người dùng khác. Ad-hoc có nghĩa là "cho mục đích nào đó," thường là một giải pháp tạm thời. Mạng ad-hoc được tạo và duy trì bởi các node riêng biệt, vừa là trạm truyền/nhận vừa là thành phần trung gian. Chúng không yêu cầu kiến trúc sẵn có và không dựa trên cơ sở hạ tầng nối dây; tất cả truyền thông đều qua môi trường không dây. Sự tiến bộ của công nghệ và sự phổ biến của máy tính xách tay thúc đẩy các nghiên cứu về mạng ad-hoc. Các mạng ad-hoc nhỏ có thể được thiết lập trong văn phòng, hội thảo, hoặc thậm chí trong gia đình. Các mạng ad-hoc "gọn nhẹ" cũng cần thiết trong các nhiệm vụ cứu hộ và địa hình hiểm trở. Ví dụ về mạng ad-hoc bao gồm hoạt động cứu hộ (liên lạc liên tục giữa các thành viên) và khu vực kém phát triển (thiết lập mạng mà không tốn kém chi phí). Mạng ad-hoc có các tính chất đặc biệt của mạng không dây nhưng không yêu cầu trạm trung tâm. Các mạng không dây đơn giản yêu cầu các trạm trung tâm để định tuyến bản tin đến/đi của các node di động (MN). Mạng ad-hoc không đòi hỏi bất kỳ thiết bị có sẵn nào; hai hoặc nhiều MN sẽ hợp tác tạo nên mạng. Các MN tự chuyển tiếp gói tin đến/đi của mỗi node. Hoạt động tương thích này cho phép tạo mạng nhanh chóng, ngay cả trong điều kiện bất lợi. Đặc điểm khác của mạng ad-hoc là "kết hợp số lượng lớn các MN, độ rộng băng thông, sự cần thiết hỗ trợ truyền thông đa phương tiện theo thời gian thực và khả năng chống truy nhập nguồn tài nguyên dữ liệu được phân phát". Hai kiến trúc khác nhau của mạng ad-hoc là kiến trúc trên mặt phẳng và kiến trúc phân lớp. Mạng phẳng là đơn giản nhất vì tất cả các MN là "ngang bằng". Mỗi node trong mạng phẳng tham gia vào quá trình chuyển tiếp và nhận gói tin, phụ thuộc vào kỹ thuật định tuyến. Mạng phân lớp dùng phương pháp phân lớp thành hai hay nhiều lớp. Lớp phía dưới gồm các MN nhóm lại thành các mạng nhỏ. Một MN được chọn từ mỗi nhóm đóng vai trò là cổng giao tiếp với lớp cao hơn. Khi một MN thuộc nhóm A muốn liên lạc với một MN khác cùng nhóm A, kỹ thuật định tuyến tương tự như trong mạng phẳng. Nếu một MN thuộc nhóm A muốn truyền thông với một MN thuộc nhóm B, thì sẽ thực hiện các kỹ thuật định tuyến cải tiến hơn. Cách thông dụng nhất để nghiên cứu mạng di động ad-hoc MANET là thông qua mô phỏng. Lợi ích của mô phỏng là rõ ràng: nhanh, có thể lặp lại, có thể tách rời các tham số để đánh giá hoạt động khi thiết kế, cho phép kiểm tra một dải rộng các kịch bản. Muốn mô phỏng MANET để tìm giao thức định tuyến, lưu lượng, quản lý thì điều kiện là phải có mô hình di động. Việc sử dụng các mô hình gần với thực tế là cần thiết. Có nhiều mô hình di động được đề xuất. Nhưng tất cả các mô hình này đều trải qua trạng thái không ổn định khi bắt đầu mô phỏng. Phương pháp đề xuất giải quyết vấn đề này là loại bỏ thời gian khởi đầu và đặt trạng thái ổn định vào điểm khởi động mô phỏng. Navidi và Camp đã giải quyết vấn đề này cho mô hình di động điểm định hướng ngẫu nhiên RWPMM bằng cách tìm ra phân bố trạng thái ổn định và tạo ra mô hình di động được lấy mẫu từ phân bố trạng thái ổn định (được gọi là “mô phỏng hoàn hảo” và “lấy mẫu hoàn hảo”). Về mặt toán học, điều kiện để mô phỏng chính xác các loại mô hình di động là chúng phải có chế độ dừng. Khi đó ta mới có thể lấy mẫu trung bình theo thời gian, hoặc trung bình theo tập hợp. Phương pháp Palm là công cụ tốt để ta đưa ra các điều kiện cho chế độ dừng. Kết quả trình bày trong luận văn này cung cấp một lớp các mô hình di động - gọi là mô hình di động hành trình ngẫu nhiên RTMM, sử dụng phương pháp Palm để xem xét trạng thái ổn định; thực hiện mô phỏng hoàn hảo RTMM làm đầu vào cho phần mềm mô phỏng ns-2. Xem xét các mô hình thuộc RTM: RWPMM, mô hình bước ngẫu nhiên RWM phản xạ, RWM “đi xuyên”, RWPMM bị giới hạn và đặc biệt là mô hình di động theo một bản đồ số không gian thực. Tính toán của ta là cho mô hình bản đồ không gian thực (là dạng tiêu biểu của RWPMM). Do đó, ta sẽ đưa ra các điều kiện xem xét chế độ dừng (tức là gồm các tính chất dừng của vận tốc, quãng đường di chuyển, khoảng thời gian di chuyển, mật độ node,.. Đánh giá tính ổn định của chế độ dừng. Sau đó thực hiện mô phỏng để kiểm tra lại các kết quả lý thuyết này. Thực hiện giao thức định tuyến nguồn động DSR trên mô hình di động bản đồ số không gian thực khi mô phỏng hoàn hảo và mô phỏng chưa hoàn hảo để xem sự khác nhau giữa chúng.

1.1. Ưu Điểm Của Mạng Ad hoc Trong Thực Tế

Mạng ad-hoc rất linh hoạt và có thể được thiết lập ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào. Một số ưu điểm chính bao gồm khả năng hoạt động trong các nhiệm vụ cứu hộ, cung cấp kết nối ở các khu vực kém phát triển và cho phép tạo mạng nhanh chóng trong các tình huống khẩn cấp. Bên cạnh đó sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ phần cứng và hạ tầng đã làm cho chi phí triển khai trở nên thấp hơn và phù hợp hơn với nhiều mục đích sử dụng khác nhau.

1.2. Vai Trò Của Mô Phỏng Trong Nghiên Cứu Mạng MANET

Mô phỏng là phương pháp quan trọng để nghiên cứu mạng di động ad-hoc MANET. Nó cho phép kiểm tra các giao thức định tuyến, quản lý lưu lượng và các tham số khác trong môi trường kiểm soát, nhanh chóng và có thể lặp lại. Bằng cách sử dụng các mô hình di động gần với thực tế, có thể thu được kết quả đáng tin cậy, giúp thiết kế và triển khai các mạng MANET hiệu quả hơn.

1.3. Phương Pháp Palm Trong Phân Tích Chế Độ Dừng

Phương pháp Palm là một công cụ quan trọng để phân tích chế độ dừng của các mô hình di động. Nó cho phép liên hệ các giá trị trung bình theo thời gian với các giá trị trung bình theo sự kiện, giúp xác định các điều kiện để mô phỏng chính xác. Bằng cách sử dụng phương pháp Palm, có thể xây dựng các mô hình di động gần thực tế hơn và đánh giá tính ổn định của chúng.

II. Thách Thức Khi Mô Hình Hóa Mạng Ad hoc Di Động

Các MN trong mạng ad-hoc di chuyển từ nơi này đến nơi khác; tuy nhiên, tìm ra những cách để mô hình hóa những sự di chuyển này là không dễ dàng. Yêu cầu mô phỏng giao thức một cách triệt để thì cần thiết phát triển và sử dụng các mô hình di động biểu diễn chính xác sự di chuyển của các MN trong giao thức đó. Từ đó mới có thể xác định được rằng giao thức đó liệu có ích để thực hiện hay không? Hiện nay tồn tại hai kiểu mô hình di động đã được dùng trong mô phỏng mạng ad-hoc: mô hình nhân tạomô hình dò theo vết. Dò theo vết là các mẫu mô hình được quan sát trong các hệ đời sống thực tế. Ví dụ, nếu một người mang điện thoại di động có khả năng dò chính xác sự di chuyển và hoạt động của các người dùng điện thoại di động khác trong một khoảng thời gian đã cho, họ sẽ thu được một vết. Các vết cung cấp thông tin chính xác, đặc biệt khi chúng có một số lượng lớn các MN tham gia và khoảng thời gian quan sát đủ dài. Nhưng thật không may, vì lý do bảo mật nên các dữ liệu vết có thể bị cấm thu thập và phân phát những số liệu thống kê. Thêm nữa, trong vùng địa lý mới (khi triển khai mạng ad-hoc) là không dễ dàng được mô hình hóa nếu các vết chưa đủ để tạo thành mô hình. Trong những tình huống như thế này thì sử dụng các mô hình nhân tạo là cần thiết. Các mô hình nhân tạo cố gắng biểu diễn một cách hiện thực hoạt động của các MN mà không sử dụng các vết và những số liệu thống kê chưa biết. Một mô hình di động tốt sẽ cố gắng bắt chước sự di chuyển của các MN thực. Những thay đổi về tốc độ và chiều chuyển động phải xảy ra, và chúng phải xảy ra trong những khe thời gian có tính hợp lý. Ta không mong muốn các MN đi lại trên những đường thẳng với vận tốc đều suốt quá trình mô phỏng, vì các MN thực tế sẽ không di chuyển theo một cách cứng nhắc như vậy. Thay vào đó, vận tốc của các MN phải thỉnh thoảng thay đổi và thậm chí vận tốc có thể bằng không. Chiều chuyển động của các MN cũng phải thay đổi vì các MN ít khi di chuyển chỉ theo một chiều trong một khoảng thời gian dài. Hiện nay có hai loại mô hình di động biểu diễn các MN đơn lẻ: mô hình di động mạng tế bàomô hình di động mạng ad-hoc.

2.1. So Sánh Mô Hình Nhân Tạo và Dò Theo Vết

Mô hình nhân tạo cố gắng biểu diễn một cách hiện thực hoạt động của các MN mà không sử dụng các vết và những số liệu thống kê chưa biết. Trong khi đó, mô hình dò theo vết là các mẫu mô hình được quan sát trong các hệ đời sống thực tế. Dò theo vết cung cấp thông tin chính xác, đặc biệt khi chúng có một số lượng lớn các MN tham gia và khoảng thời gian quan sát đủ dài.

2.2. Yêu Cầu Của Một Mô Hình Di Động Tốt

Một mô hình di động tốt sẽ cố gắng bắt chước sự di chuyển của các MN thực. Những thay đổi về tốc độ và chiều chuyển động phải xảy ra trong những khe thời gian có tính hợp lý. Ta không mong muốn các MN đi lại trên những đường thẳng với vận tốc đều suốt quá trình mô phỏng, vì các MN thực tế sẽ không di chuyển theo một cách cứng nhắc như vậy. Thay vào đó, vận tốc của các MN phải thỉnh thoảng thay đổi và thậm chí vận tốc có thể bằng không. Chiều chuyển động của các MN cũng phải thay đổi vì các MN ít khi di chuyển chỉ theo một chiều trong một khoảng thời gian dài.

2.3. Các Loại Mô Hình Di Động Cho MN Đơn Lẻ

Hiện nay có hai loại mô hình di động biểu diễn các MN đơn lẻ: mô hình di động mạng tế bào và mô hình di động mạng ad-hoc.

III. Các Mô Hình Di Động Mạng Tế Bào Phổ Biến Là Gì

Các mô hình tế bào tập trung vào những di chuyển đơn lẻ vì chúng chỉ gồm chiều gọi và các “chuyển giao” của một MN đơn. Các mô hình di động dưới đây đã được phát triển để kiểm nghiệm hoạt động của các giao thức tế bào và những chiến lược của chúng: Mô hình bước ngẫu nhiên RWM: Mô hình di động đơn giản dựa trên sự ngẫu nhiên của vận tốc và chiều chuyển động. Mô hình luồng lưu lượng với vận tốc không đổi FFM: Mô hình tập trung vào các mẫu lưu lượng. Mô hình Markov_Gauss ngẫu nhiên RGMM: Mô hình này được tạo nên để bù đắp những khiếm khuyết của hai mô hình trên. RWM là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất vì nó mô tả sự di chuyển liên quan đến các tế bào của mạng tế bào. Đặc biệt, trong mô hình này, một MN di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác bằng cách chọn ngẫu nhiên một chiều và một vận tốc trong quá trình chuyển động của nó. Chiều và vận tốc mới được chọn từ hai khoảng đã được xác định, [0,2π] và [νmin,νmax] tương ứng. Mỗi MN của RWM di chuyển trong khoảng thời gian không đổi t, ở cuối khoảng thời gian t, chiều và tốc độ mới của MN sẽ được tính toán. Nhiều RWM được phát triển gồm di chuyển theo không gian một chiều 1-D, hai chiều 2-D, ba chiều 3-D và d chiều d-D.

3.1. Ưu Nhược Điểm Của Mô Hình Bước Ngẫu Nhiên RWM

RWM là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất vì nó mô tả sự di chuyển liên quan đến các tế bào của mạng tế bào. Ưu điểm là mô hình đơn giản, dễ triển khai. Tuy nhiên, sự đơn giản của RWM thường không đủ để đưa ra các kết quả thực tế trong thế giới thực phức tạp.

3.2. Mô Hình Luồng Lưu Lượng FFM Được Sử Dụng Khi Nào

Mô hình luồng lưu lượng mô tả những sự di chuyển vĩ mô thay cho sự di chuyển vi mô hoặc đơn lẻ. Hoạt động của luồng lưu lượng tương tự như luồng chất lỏng chảy qua ống dẫn. Kết qủa là FFM biểu diễn lưu lượng trên đường cao tốc và những tình huống tương tự khác với một luồng không đổi các MN; nói khác đi mô hình này không thể biểu diễn chính xác sự di chuyển của từng MN đơn lẻ.

3.3. RGMM Khắc Phục Các Hạn Chế Của RWM Và FFM Ra Sao

RGMM được giới thiệu với mong muốn khắc phục những kết quả không mong muốn của RWM và FFM. Trong RGMM, vận tốc của MN ở thời điểm n được tính dựa trên vận tốc trước đó, giá trị trung bình và một biến ngẫu nhiên Gauss. Cách tiếp cận này giúp loại bỏ những vấn đề gặp phải trong RWM và FFM, đồng thời cho phép nghiên cứu sự di chuyển của MN đơn lẻ.

IV. Các Mô Hình Di Động Mạng Ad hoc Thường Gặp Nhất

Các mô hình di động mạng ad-hoc khác hẳn so với các mô hình di động mạng tế bào. Các mô hình di động mạng tế bào đòi hỏi sử dụng các BS trong khi các mô hình di động mạng ad-hoc yêu cầu sự hợp tác của hai hoặc nhiều MN truyền thông. Cho dù các mô hình di động tồn tại riêng biệt cho cả mạng tế bào và ad-hoc, nhưng vẫn có nét giống nhau giữa hai loại này. Dưới đây mô tả tám mô hình di động mạng ad-hoc: Mô hình di động ngẫu nhiên RMM: Mô hình đơn giản dựa trên chiều chuyển động và vận tốc. Mô hình di động chiều ngẫu nhiên, vận tốc không đổi: Một phiên bản của RMM. Mô hình di động điểm định hướng ngẫu nhiên RWPMM: Mô hình gồm những lần tạm dừng giữa những lần đổi điểm đích và vận tốc. Mô hình di động chiều chuyển động ngẫu nhiên RDMM: Mô hình này áp đặt các MN di chuyển đến biên của khu vực mô phỏng trước khi thay đổi chiều và vận tốc chuyển động. Mô hình di động vùng mô phỏng vô hạn: Mô hình này chuyển một vùng mô phỏng hình vuông 2-D thành vùng mô phỏng hình xuyến. Phiên bản xác suất của RMM: Mô hình sử dụng một ma trận xác suất để xác định vị trí tiếp theo của MN. Mô hình di động đường phố, phân vùng và khu vực thành phố: Ba khu vực mô phỏng biểu diễn cho các mức độ quy mô khác nhau của thành phố. Phân lớp mô hình di động: Phân lớp mô hình di động biểu diễn các mức độ khác nhau của quy mô trong khoảng di chuyển dài.

4.1. Điểm Khác Biệt Giữa Mô Hình Mạng Tế Bào và Ad hoc

Các mô hình di động mạng ad-hoc khác hẳn so với các mô hình di động mạng tế bào. Các mô hình di động mạng tế bào đòi hỏi sử dụng các BS trong khi các mô hình di động mạng ad-hoc yêu cầu sự hợp tác của hai hoặc nhiều MN truyền thông.

4.2. Ưu Nhược Điểm Của Mô Hình RMM Trong Mạng Ad hoc

RMM cho mạng ad-hoc là RWM cho mạng tế bào. Trong RMM, vận tốc và chiều chuyển động hiện tại của MN là độc lập với vận tốc và chiều trong quá khứ. Vì vậy, ta bắt gặp một sự phát sinh không thực của sự di chuyển là ngừng đột ngột, ngoặt đột ngột và di chuyển hoàn toàn ngẫu nhiên. Yêu cầu tránh những vấn đề này, nhiều giải pháp đã thay đổi RMM bằng cách thay đổi tính toán vận tốc, chiều hoặc cả hai.

4.3. Vai Trò Của Mô Hình RWPMM Trong Mô Phỏng Di Động

RWPMM gồm những lần tạm dừng giữa những lần thay đổi chiều/vận tốc. Một MN bắt đầu đứng ở một vị trí trong một khoảng thời gian nào đó (nghĩa là thời gian tạm dừng). Mỗi khi thời gian này hết, MN chọn một đích ngẫu nhiên cũng như vận tốc, trong đó vận tốc có phân bố đều trong [0,vmax]. Nó sẽ di chuyển đến đích mới với vận tốc mới này. Đến đích, MN lại bắt đầu thủ tục như trên và cứ như thế.

V. Ứng Dụng Mô Hình Di Động Vào Bản Đồ Số Thực Tế

Chương 3 là phần chính của luận văn. Nó mô tả RTMM lý thuyết (nhân tạo) với mong muốn bắt chước thực tế và nhấn mạnh rằng áp dụng cho mạng ad-hoc. Đó là cơ sở cho các mô hình di động thực tế. Phương pháp lấy mẫu sự di chuyển của MN được quan tâm trong chương này. Từ đó được áp dụng cho một bản đồ số thực. Chương 4 là phần mô phỏng với kết quả mô phỏng và bình luận trên một bản đồ số thực tế (nhưng vẫn chỉ là hai chiều, nghĩa là trên mặt phẳng). Sau đó, mô hình di động dựa trên bản đồ số được thực hiện với giao thức định tuyến DSR (cho mạng di động ad-hoc) để xem xét và đánh giá sự ổn định của mô hình dựa theo tỷ số phân phát gói tin.

5.1. RTMM Mô Hình Hóa Chuyến Đi Ngẫu Nhiên Thực Tế

Mô hình RTMM (Random Trip Mobility Model) hướng đến việc mô phỏng các chuyến đi ngẫu nhiên trong môi trường thực tế. Khác với các mô hình lý thuyết, RTMM có thể kết hợp các yếu tố như điểm dừng, vận tốc thay đổi và hướng di chuyển linh hoạt.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Sử Dụng Bản Đồ Số Thực Tế

Việc sử dụng bản đồ số thực tế trong mô phỏng giúp mô hình trở nên gần gũi hơn với điều kiện thực tế. Các yếu tố như địa hình, đường xá và các công trình xây dựng có thể được tích hợp vào mô phỏng, tạo ra môi trường thử nghiệm đáng tin cậy hơn.

5.3. Đánh Giá Tính Ổn Định Của Mô Hình Thông Qua DSR

Việc sử dụng giao thức định tuyến DSR (Dynamic Source Routing) cho phép đánh giá tính ổn định của mô hình di động. Tỷ lệ phân phối gói tin có thể được sử dụng làm thước đo để xác định mức độ hiệu quả của mô hình trong việc duy trì kết nối trong môi trường di động.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Mô Hình Di Động

Chương này trình bày lại một số mô hình di động riêng lẻ (của mỗi MN đơn). Nó khá đầy đủ để biểu diễn sự di chuyển của mỗi MN trong cả hai mạng: mạng tế bào truyền thống và mạng ad-hoc. Tuy nhiên, như ta thấy ở chương 4, các mô hình này là chưa thực tế và cần phải kiểm tra một số điều kiện (ví dụ: tính dừng và độ ổn định) để xây dựng nên mô hình di động gần thực tế hơn. Các mô hình di động nhóm ngày càng được áp dụng nhiều hơn trong thực tế, nên việc xem xét khái niệm các mô hình nhóm là cần thiết. Tuy chúng khác so với mô hình di động riêng lẻ, nhưng chúng lại là tập hợp của các MN đơn. Do đó, tính di động của mô hình nhóm vẫn phải gắn với sự di động riêng lẻ. Các mô hình di động nhóm hiện được nghiên cứu ít hơn so với mô hình di động độc lập vì chúng ít được áp dụng cho mạng tế bào. Vì vậy, ta cần quan tâm nhiều hơn về mô hình di động nhóm với dự báo sẽ được áp dụng nhiều hơn trong tương lai khi vấn đề toàn cầu hoá được giải quyết.

6.1. Yếu Tố Quan Trọng Để Mô Hình Di Động Gần Thực Tế

Để mô hình di động trở nên gần thực tế hơn, cần kiểm tra các điều kiện như tính dừng (stationarity) và độ ổn định. Những yếu tố này đảm bảo rằng mô hình có thể duy trì các đặc tính thống kê của nó trong thời gian dài và không bị biến đổi quá mức.

6.2. Vai Trò Ngày Càng Tăng Của Mô Hình Di Động Nhóm

Các mô hình di động nhóm ngày càng trở nên quan trọng khi nghiên cứu các tình huống trong đó các thiết bị hoặc người dùng di chuyển theo nhóm. Ví dụ, các mô hình này có thể được sử dụng để mô phỏng các đội quân, đội cứu hộ hoặc các nhóm người đi du lịch cùng nhau.

6.3. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Của Mô Hình Di Động

Hướng nghiên cứu tương lai của mô hình di động có thể tập trung vào việc phát triển các mô hình nhóm phức tạp hơn, tích hợp các yếu tố môi trường thực tế và sử dụng các kỹ thuật học máy để tự động điều chỉnh các tham số mô hình.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH DI ĐỘNG RIÊNG LẺ Các MN trong mạng ad-hoc di chuyển từ nơi này đến nơi khác; tuy nhiên, tìm ra những cách để mô hình hoá những sự di chuyển này là không dễ dàng. Yêu cầu mô phỏng giao thức một cách triệt để thì cần thiết phát triển và sử dụng các mô hình di động biểu diễn chính xác sự di chuyển của các MN trong giao thức đó. Từ đó mới có thể xác định được rằng giao thức đó liệu có ích để thực hiện hay không? Hiện nay tồn tại hai kiểu mô hình di động đã được dùng trong mô phỏng mạng ad-hoc: mô hình nhân tạo và mô hình dò theo vết. Dò theo vết là các mẫu mô hình được quan sát trong các hệ đời sống thực tế.

Ví dụ, nếu một người mang điện thoại di động có khả năng dò chính xác sự di chuyển và hoạt động của các người dùng điện thoại di động khác trong một khoảng thời gian đã cho, họ sẽ thu được một vết. Các vết cung cấp thông tin chính xác, đặc biệt khi chúng có một số lượng lớn các MN tham gia và khoảng thời gian quan sát đủ dài. Nhưng thật không may, vì lý do bảo mật nên các dữ liệu vết có thể bị cấm thu thập và phân phát những số liệu thống kê. Thêm nữa, trong vùng địa lý mới (khi triển khai mạng ad-hoc) là không dễ dàng được mô hình hoá nếu các vết chưa đủ để tạo thành mô hình.

Trong những tình huống như thế này thì sử dụng các mô hình nhân tạo là cần thiết. Các mô hình nhân tạo cố gắng biểu diễn một cách hiện thực hoạt động của các MN mà không sử dụng các vết và những số liệu thống kê chưa biết. Một mô hình di động tốt sẽ cố gắng bắt chước sự di chuyển của các MN thực. Những thay đổi về tốc độ và chiều chuyển động phải xảy ra, và chúng phải xảy ra trong những khe thời gian có tính hợp lý.

Ta không mong muốn các MN đi lại trên những đường thẳng với vận tốc đều suốt quá trình mô phỏng, vì các MN thực tế sẽ không di chuyển theo một cách cứng nhắc như vậy. Thay vào đó, vận tốc của các MN phải thỉnh thoảng thay đổi và thậm chí vận tốc có thể bằng không. Chiều chuyển động của các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 MN cũng phải thay đổi vì các MN ít khi di chuyển chỉ theo một chiều trong một khoảng thời gian dài. Hiện nay có hai loại mô hình di động biểu diễn các MN đơn lẻ: mô hình di động mạng tế bào và mô hình di động mạng ad-hoc.1 Các mô hình di động mạng tế bào [12] Các mô hình tế bào tập trung vào những di chuyển đơn lẻ vì chúng chỉ gồm chiều gọi và các “chuyển giao” của một MN đơn.

Các mô hình di động dưới đây đã được phát triển để kiểm nghiệm hoạt động của các giao thức tế bào và những chiến lược của chúng:  Mô hình bước ngẫu nhiên RWM (Random Walk Model - RWM): Mô hình di động đơn giản dựa trên sự ngẫu nhiên của vận tốc và chiều chuyển động.  Mô hình luồng lưu lượng với vận tốc không đổi FFM (Constant Velocity Fluid- Flow Model - FFM): Mô hình tập trung vào các mẫu lưu lượng.  Mô hình Markov_Gauss ngẫu nhiên RGMM (Random Gauss_Markov Model - RGMM): Mô hình này được tạo nên để bù đắp những khiếm khuyết của hai mô hình trên.1 Mô hình bước ngẫu nhiên - RWM RWM là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất vì nó mô tả sự di chuyển liên quan đến các tế bào của mạng tế bào. Nhiều thực thể trong tự nhiên di chuyển theo những cách không thể dự đoán được.

Ví dụ, các phần tử di chuyển theo những chiều ngẫu nhiên mà không có mẫu hoặc hướng chính nào. RWM được phát triển trong nỗ lực bắt trước sự di chuyển thất thường của các đối tượng. Đặc biệt, trong mô hình này, một MN di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác bằng cách chọn ngẫu nhiên một chiều và một vận tốc trong quá trình chuyển động của nó. Chiều và vận tốc mới được chọn từ hai khoảng đã được xác định, [0,2π] và [νmin,νmax] tương ứng.

Mỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 MN của RWM di chuyển trong khoảng thời gian không đổi t, ở cuối khoảng thời gian t, chiều và tốc độ mới của MN sẽ được tính toán. Nhiều RWM được phát triển gồm di chuyển theo không gian một chiều 1-D, hai chiều 2-D, ba chiều 3-D và d chiều d-D. Ta chỉ trình bày mô hình di chuyển 1-D và 2- D, các mô hình 3-D và d-D có thể ngoại suy được. Trong mô hình di chuyển 1-D, ta hình dung một vận động viên đứng ở chính giữa một trục cân bằng dài vô hạn cả về hai phía.

Đưa ra kết quả của sự kiện tung đồng xu, vận động viên di chuyển theo một chiều với một vận tốc ngẫu nhiên trong một khoảng thời gian t. Ví dụ, nếu kết quả đồng xu là ngửa, vận động viên di chuyển về phía bên phải với một vận tốc được chọn ngẫu nhiên và ngược lại. Sau khi lặp lại phép thử này với một số lần lớn, mô hình di chuyển 1-D được vạch ra. Trong mô hình di chuyển 2-D, ta hình dung vẫn là vận động viên đó di chuyển trên một mặt phẳng hai chiều.

Ví dụ, sử dụng phương thức tương tự như mô hình di chuyển 1-D, ta tạo nên mô hình di chuyển ngẫu nhiên 2-D. Đặc biệt, thay vì tưởng tượng vận động viên đứng trên trục cân bằng, ta mở rộng môi trường thành một mặt sàn vô hạn và sử dụng một đĩa quay trên đó có mũi tên. Sau khi quay đĩa, vận động viên di chuyển theo chiều của mũi tên với vận tốc ngẫu nhiên trong khoảng thời gian t. Cứ làm như thế, vận động viên di chuyển ngẫu nhiên trên mặt phẳng 2-D và ta tạo nên được mô hình di chuyển 2-D.

Nhiều kết quả đã chứng minh rằng một sự di chuyển ngẫu nhiên 1-D hoặc 2-D đều quay trở lại điểm ban đầu với một điều hoàn toàn chắc chắn, nghĩa là xác suất bằng 1 (ta không đi sâu vào điều này vì đây không phải là mục đích chính của luận văn). Đặc điểm này đảm bảo rằng sự di chuyển ngẫu nhiên biểu diễn chính xác mô hình di động. Mô hình di động kiểm nghiệm sự di chuyển của các thực thể xung quanh điểm xuất phát của chúng và không phải lo rằng các thực thể di chuyển mà không quay lại điểm xuất phát. Sự di chuyển 2-D đặc biệt được quan tâm để phát triển các giao thức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cho kỹ thuật liên quan đến mạng tế bào, vì bề mặt trái đất được mô hình hoá dùng biểu diễn 2-D.

Tuy nhiên, sự đơn giản của RWM thường không đủ để đưa ra các kết quả thực tế trong thế giới thực phức tạp.1a cho thấy một ví dụ di chuyển theo dõi từ mô hình 2-D. MN xuất phát từ vị trí có toạ độ (0,0). Ở mỗi điểm, MN ngẫu nhiên chọn một chiều giữa 0 và 2π và vận tốc giữa 0 và 10m/s. MN được phép di chuyển trong thời gian 1 giây trước khi thay đổi chiều và vận tốc.

Ta chú ý hoạt động bị giới hạn của RWM. Node trong hình 1.1a hiếm khi di chuyển ra xa so với điểm xuất phát.1a - Mẫu di chuyển của một MN dùng RWM 2-D. Trong trường hợp đặc biệt của RWM, một MN đổi chiều chuyển động không phải sau một khoảng thời gian mà MN đổi chiều sau khi di chuyển được một đoạn cho trước.1b minh hoạ ví dụ này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1b - Mẫu di chuyển của một MN dùng RWM 2-D.

RWM cũng được mô tả là mẫu di động không nhớ vì nó không nhớ được các vị trí nó đã đi qua và các giá trị vận tốc. Đặc điểm này ngăn cản tính thực tế của RWM vì các MN điển hình (chính là người sử dụng) có một vận tốc và điểm đích được xác định trước, và chúng lần lượt ảnh hưởng đến các điểm đích và vận tốc tiếp theo. Mô hình di động Markov_Gauss cố gắng khắc phục điều này.2 Mô hình luồng lưu lượng với vận tốc không đổi - FFM Mô hình luồng lưu lượng mô tả những sự di chuyển vĩ mô thay cho sự di chuyển vi mô hoặc đơn lẻ. Hoạt động của luồng lưu lượng tương tự như luồng chất lỏng chảy qua ống dẫn.

Kết qủa là FFM biểu diễn lưu lượng trên đường cao tốc và những tình huống tương tự khác với một luồng không đổi các MN; nói khác đi mô hình này không thể biểu diễn chính xác sự di chuyển của từng MN đơn lẻ. Ví dụ, FFM biểu diễn những đặc tính hoạt động của lưu lượng trên đường cao tốc một chiều, vô hạn một phía. Những ô tô tham gia và thoát khỏi đường cao tốc ở những vị trí khác nhau. FFM không dùng cho những di chuyển đơn lẻ gồm dừng, xuất phát, những hoạt động kết hợp với một di chuyển đơn lẻ quanh thành phố hoặc từ nhóm này đến nhóm khác.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Mô hình Markov_Gauss ngẫu nhiên - RGMM RGMM được giới thiệu với mong muốn khắc phục những kết quả không mong muốn được đề cập trong mục 1. Trong RGMM, vận tốc của MN ở thời điểm n được đưa ra bởi phương trình: vn = αvn-1 + (1-α)μ + 1   2  xn-1 (1.1) với α là tham số dò dùng để thay đổi mức độ ngẫu nhiên, μ là hằng số biểu diễn giá trị trung bình của νn khi n→∞, và xn-1 là một biến ngẫu nhiên từ phân bố Gauss. Các giá trị ngẫu nhiên hoàn toàn thu được bằng cách đặt α = 0 và di chuyển tuyến tính thu được bằng cách đặt α = 1. Mức độ ngẫu nhiên có thể thay đổi bằng cách thay đổi giá trị α n 1 trong khoảng từ 0 đến 1.

Sự đổi chỗ của MN được đưa ra bởi phương trình sn =  vi. i 0 Những vận tốc và chiều chuyển động đã qua ảnh hưởng đến những vận tốc và chiều tiếp theo, RGMM loại bỏ những vấn đề gặp phải trong RWM. Nó cũng cho phép nghiên cứu sự di chuyển của MN đơn lẻ; vì vậy, loại bỏ được những vấn đề gặp phải trong FFM.2 Các mô hình di động mạng ad-hoc Các mô hình di động mạng ad-hoc khác hẳn so với các mô hình di động mạng tế bào. Các mô hình di động mạng tế bào đòi hỏi sử dụng các BS trong khi các mô hình di động mạng ad-hoc yêu cầu sự hợp tác của hai hoặc nhiều MN truyền thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ