CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU TƯỜNG GẠCH XÂY VÀ KẾT CẤU TƯỜNG GẠCH XÂY GIA CƯỜNG BỞI VẬT LIỆU COMPOSITE Nội dung chính của chương này sẽ trình bày các vấn đề tổng quan của đặc trưng vật liệu và ứng xử của kết cấu tường gạch xây cũng như kết cấu tường gạch xây gia cường bởi vật liệu composite I.1 Vật liệu gạch vữa xây và kết cấu tường gạch xây I.1 Vật liệu gạch xây vữa Gạch là một loại vật liệu xây dựng đã được con người sáng tạo và đưa vào sử dụng rất sớm trong lịch sử từ hàng ngàn năm trước công nguyên. Cụ thể khoảng 8000 năm trước con người đã dùng gạch không nung, khoảng 5000-6000 năm trước đã dùng đá gia công, khoảng 3000 năm trước đã dùng gạch nung trong các công trình xây dựng. Ở Việt Nam đến này vẫn còn tồn tại những Vật liệu gạch xây vữa là một loại vật liệu composite nên các đặc tính của nó phụ thuộc vào đặc tính của các vật liệu cấu thành là gạch và vữa. a) Gạch Gạch là một loại vật liệu xây dựng đã được con người sáng tạo và đưa di tích lịch sử sử dụng gạch đóng vai trò là vật liệu xây dựng quan trọng như công trình thành Tây Đô (thời nhà Hồ năm 1397), thành Hà Nội, chùa Thiên Mụ, khu di tích Mỹ Sơn,….Đó là những minh chứng rõ ràng thể hiện vai trò của vật liệu quen thuộc này trong đời sống người Việt từ xưa đến nay.
Gạch có thể là loại có hình khối có quy cách hay hình dạng bất kỳ (đá hộc). Về phân loại, theo vật liệu có 3 loại chính là gạch đất sét nung, đá hộc và gạch 1 không nung; theo cấu tạo hình học có thể phân ra các loại là gạch đặc, gạch đục lỗ và gạch rỗng. Nhìn chung, gạch là loại vật liệu được sử dụng phổ biến nhưng về mặt tính toán trong một thời gian dài chưa được tập trung nghiên cứu. Gạch là vật liệu có nhiều ưu điểm: độ cứng lớn, độ bền tương đối cao; chống cháy tốt, chi phí bảo dưỡng và tu sửa ít; có thể sử dụng vật liệu địa phương sẵn có, chi phí rẻ; cách âm, cách nhiệt tốt và thi công đơn giản.
Bên cạnh đó, gạch còn tồn tại những mặt hạn chế như: trọng lượng bản thân lớn, khối lượng vận chuyển nhiều; công tác xây lắp nặng nề, khó cơ giới hóa, tốc độ thi công chậm; cường độ không cao, lực kết dính kém nên cường độ chịu kéo, chịu cắt, chịu tải trọng động kém, dễ nứt. b) Vữa xây Trong kết cấu tường gạch, vữa xây đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các viên gạch thành một khối, truyền lực từ viên gạch này đến viên gạch khác. Đồng thời vữa xây còn giúp lấp kín khe hở, chống ẩm, cách nhiệt, cách âm,…. Theo thành phần, vữa xây có thể có các loại: vữa xi măng (xi măng+cát); vữa hỗn hợp (xi măng+vôi+cát); vữa vôi, vữa đất sét, vữa thạch cao (không có xi măng).
Theo trọng lượng, vữa xây có thể phân loại thành vữa nặng (trọng lượng riêng γ ≥ 1500 kg/m3) và vữa nhẹ (trọng lượng riêng γ < 1500 kg/m3). Các loại chất kết dính thường dùng là vôi, xi măng Portland và đất sét. Cường độ chịu nén, chịu kéo và các đặc trưng đàn hồi là các đặc trưng cơ học quan trọng của vữa xây, đặc biệt là cường độ chịu nén của vữa được xem là tiêu chuẩn cơ bản để chọn loại vữa bởi có thể xác định tương đối đơn giản. Cường độ này phụ thuộc chủ yếu vào thành phần cấu thành của vữa và tỷ lệ nước/xi măng.
2 c) Khối xây Không giống như khi thí nghiệm riêng lẻ, sự tương tác của gạch và vữa trong khối xây có tác động tới ứng xử của khối xây dưới tác dụng của các loại tải trọng khác nhau Ứng xử chịu nén - Phương pháp thí nghiệm : Ứng xử nén theo một phương của khối xây gạch –vữa thường được xác định thông qua thí nghiệm nén mẫu đơn giản (ở Châu Âu, áp dụng tiêu chuẩn RILEM RILEM –LUMB1 hoặc EN1052-1; ở Mỹ sử dụng tiêu chuẩn ASTM E474). - Đường cong ứng xử : Từ những thí nghiệm dựa theo các tiêu chuẩn này, ứng xử của khối xây gạch- vữa dưới tác dụng của tải trọng chịu nén theo một phương được xác định. Ứng xử này được đặc trưng bởi đường cong quan hệ ứng suất-biến dạng tuyến tính ở pha thứ nhất và sau đó là dạng đường cong parabôn. Hình I-1:Đường cong ứng xử chịu nén theo một phương của khối xây gạch-vữa 3 Từ đường cong này, mô đun đàn hồi của khối xây gạch-vữa có thể được xác định chính là độ dốc của đường cong giữa hai điểm tương ứng với giá trị ứng suất tương ứng là 5 và 33% giá trị cường độ chịu nén lớn nhất.Thông thường, giá trị mô đun đàn hồi của khối xây gạch vữa thường nằm trong khoảng giữa mô đun đàn hồi của gạch và của vữa.
- Dạng và cơ chế phá hủy Dạng phá hủy chung của khối xây gạch-vữa dưới tác dụng của tải trọng dạng này được đặc trưng bởi các vết nứt thẳng đứng qua các viên gạch do tác dụng của ứng suất kéo, Hình I-2. Hình I-2: Dạng và cơ chế phá hủy của khối xây gạch-vữa dưới tác dụng của tải trọng nén theo một phương [1] Cơ chế phá hủy này được giải thích là do sự tương tác giữa gạch và vữa trong khối xây, cụ thể là sự chênh lệch biến dạng giữa hai thành phần cấu thành. Trong các nghiên cứu này, vữa thường có độ cứng thấp hơn so với gạch, do đó có xu hướng nở hông ra hai bên, tuy nhiên sự liên kết giữa gạch và vữa chống lại sự nở hông này. Kết quả là hình thành trạng thái ứng suất nén theo hai phương ở các phần tử vữa, đồng thời một trạng thái ứng suất kéo theo hai phương hình thành ở các phần tử gạch.
4 Ứng xử chịu kéo của khối xây Xét 2 trường hợp lực kéo tác dụng lên khối xây: Lực kéo song song với lớp vữa ngang và lực kéo vuông góc với lớp vữa ngang. - Lực kéo song song với lớp vữa ngang Backes [2] đề xuất một chương trình thí nghiệm đa mục tiêu để nghiên cứu ứng xử của khối xây gạch vữa dưới tác dụng của lực kéo song song. Các mẫu vật liệu gồm 4 hàng gạch, xây theo phương pháp truyền thống. Kết quả quan sát được là mẫu bị phá hủy dưới hai dạng phụ thuộc vào cường độ tương đối của gạch và vữa xây.
Hình I-3: Thí nghiệm kéo khối xây theo phương song song với lớp vữa ngang: (a) Cách xây mẫu; (b) Sơ đồ thí nghiệm [2]. - Lực kéo vuông góc với lớp vữa ngang Thông thường tiến hành thí nghiệm kéo trực tiếp thông qua sơ đồ thí nghiệm gồm hai viên liên kết với nhau qua duy nhất một lớp vữa. Cơ chế dính bám giữa gạch và vữa còn ít được nghiên cứu và dường như cho là phụ thuộc vào quá trình lý hóa mà ở đó độ rỗng của các thành phần cấu thành (gạch, vữa) đóng vai trò quyết định [1]. Kết quả là với vữa sử dụng cát mịn thì độ dính bám sẽ giảm.
Mặt khác, sự dính bám này là không đồng đều trên bề mặt tiếp xúc. 5 Có thể nói gạch và vữa biến dạng không đồng đều. Vữa biến dạng ngang nhiều, gạch biến dạng ngang ít hơn nên vữa chịu nén, gạch chịu kéo. Gạch chịu kéo kém nên sớm bị phá hoại.
Hình I-4 : Sơ đồ thí nghiệm kéo trực tiếp [3] Ứng xử chịu cắt Khả năng chịu tải của tường chủ yếu ảnh hưởng bởi giá trị cường độ chịu cắt của vữa nên có thể nói cường độ chịu cắt của vữa đóng vai trò rất quan trọng trong kết cấu tường gạch xây chịu tải trọng ngang trong mặt phẳng. Sơ đồ thí nghiệm phổ biến nhất để xác định cường độ chịu cắt của liên kết vữa như sau: Hình I-5 : Mô hình mẫu thí nghiệm xác định ứng xử chịu kéo của mẫu liên kết vữa: (a)-mẫu 2 gạch, 1 liên kết vữa; (b)-mẫu 3 gạch, 2 liên kết vữa 6 Từ các thí nghiệm theo sơ đồ trên, ta có thể xác định ứng xử chịu cắt của mối liên kết vữa trong khối vữa xây thông qua đường cong quan hệ ứng suất – chuyển vị tương đối của hai viên gạch kế tiếp nhau hai phía mối nối vữa. Thông thường: ứng xử chịu cắt của liên kết vữa trong khối xây được đặc trưng bởi một đường cong dạng hàm mũ có điểm cực đại tương ứng với cường độ chịu cắt (𝜏u), sau đó là pha đi xuống tiến tới giá trị không đổi ứng với cường độ chịu cắt dư (𝜏r) (do bởi lực ma sát giữa vữa và gạch hoặc giữa vữa và vữa). Hình I-6 : Sơ đồ thí nghiệm cắt trực tiếp và đường cong ứng xử chịu cắt của liên kết vữa ứng với các cấp độ tải trọng nén ngang khác nhau Theo Adbou et al.
[4], những yếu tố ảnh hưởng tới cường độ chịu cắt của liên kết vữa quan trọng nhất phải kể đến góc nội ma sát và sự dính bám. Theo đó, loại gạch (đặc và rỗng) có ảnh hưởng tới giá trị của cường độ dính bám ban đầu và dư, trong khi đó không ảnh hưởng tới góc nội ma sát. Một nhân tố ảnh hưởng khác là cường độ chịu nén của vữa xây, cường độ chịu cắt của liên kết vữa càng lớn khi mà cường độ chịu nén của vữa càng cao.2 Kết cấu tường gạch xây Khác với ứng xử của khối xây ở cấp độ vật liệu đề cập phía trên, phần này sẽ đề cập tới ứng xử dưới tác dụng của các loại tải trọng khác nhau trong mặt 7 phẳng của kết cấu tường gạch xây có kích thước hình học đủ lớn có tỷ lệ thật hoặc tương đương với kích thước tường trong thực tế. a) Ứng xử của tường gạch dưới tác dụng của tải trọng nén xiên Theo tiêu chuẩn thí nghiệm của Mỹ ASTM E-519 hoặc theo tiêu chuẩn châu Âu RILEM TC-76 LUM, mẫu tường thí nghiệm có kích thước gần như vuông với chiều dài một cạnh dài bằng ít nhất bốn lần chiều dài của một viên gạch xây mẫu.
Mấu chốt của thí nghiệm này là ngàm hai góc đối diện nhau bằng các tấm gối kê có độ cứng cực lớn và cường độ cực cao. Chiều dài ngàm trên một cạnh phải bằng ít nhất 1/10 lần chiều dài của cạnh đó. Hình I-7 : Kích thước mẫu và sơ đồ thí nghiệm nén xiên Theo Hình I-8, kết quả thí nghiệm quan sát được vết nứt phát triển theo biên chéo chịu nén. Vết nứt hoặc là chỉ phát triển dọc theo các liên kết vữa, hoặc là xuyên qua cả liên kết vữa và gạch (tùy theo đặc trưng cơ học của các thành phần vật liệu cấu thành).