Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng xây dựng mô hình đánh giá ảnh hưởng của các công tác ngoài kế hoạch outofsequence đến kế hoạch thi công dự án và kiểm soát công việc phát sinh của nhà thầu chính

Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu mô hình đánh giá ảnh hưởng công tác ngoài kế hoạch đến tiến độ thi công và kiểm soát công việc phát sinh.

Chuyên ngành

Quản lý xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2019

198
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá ảnh hưởng công tác ngoài kế hoạch đến thi công dự án

Công tác ngoài kế hoạch (OOS) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí của dự án xây dựng. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của các công tác này đến kế hoạch thi công dự ánkiểm soát công việc phát sinh. Các yếu tố như thay đổi thiết kế, vật liệu, nhân sự, và điều kiện bên ngoài được xem xét kỹ lưỡng. Mô hình đánh giá được xây dựng dựa trên phương pháp Bayesian Belief Networks (BBNs) để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này. Kết quả cho thấy, công tác ngoài kế hoạch không chỉ gây chậm trễ tiến độ mà còn làm tăng chi phí đáng kể.

1.1. Nguyên nhân gây ra công tác ngoài kế hoạch

Các nguyên nhân chính bao gồm thay đổi thiết kế từ Chủ Đầu Tư, thiếu hụt vật liệu, và sự không đồng bộ trong quy trình thi công. Những yếu tố này thường xuất phát từ các bên liên quan như Tư Vấn hoặc Nhà Thầu Phụ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc không kiểm soát tốt các yếu tố này sẽ dẫn đến phát sinh công việc không mong muốn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch thi công dự án.

1.2. Ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí

Công tác ngoài kế hoạch gây ra sự chậm trễ trong tiến độ và tăng chi phí phát sinh. Nghiên cứu sử dụng mô hình BBNs để tính toán mức độ ảnh hưởng cụ thể. Kết quả cho thấy, các yếu tố như thay đổi thiết kế và thiếu hụt vật liệu có tác động lớn nhất. Việc kiểm soát công việc phát sinh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên để giảm thiểu rủi ro.

II. Mô hình đánh giá và kiểm soát công việc phát sinh

Nghiên cứu đề xuất hai mô hình đánh giá dựa trên BBNs để đo lường ảnh hưởng của công tác ngoài kế hoạch. Mô hình 01 tập trung vào tất cả các yếu tố gây ra OOS, trong khi Mô hình 02 chỉ xem xét các yếu tố xuất phát từ Chủ Đầu Tư hoặc Tư Vấn. Cả hai mô hình đều giúp Nhà Thầu Chính tính toán được mức độ phát sinh về thời gian và chi phí, từ đó đưa ra các biện pháp kiểm soát công việc phát sinh hiệu quả.

2.1. Mô hình 01 Đánh giá tổng thể

Mô hình 01 đánh giá mức độ ảnh hưởng của tất cả các yếu tố gây ra công tác ngoài kế hoạch. Kết quả cho thấy, các yếu tố như thay đổi thiết kế, thiếu hụt vật liệu, và sự không đồng bộ trong quy trình thi công có tác động lớn nhất. Mô hình này giúp Nhà Thầu Chính xác định được các rủi ro tiềm ẩn và đưa ra biện pháp phòng ngừa.

2.2. Mô hình 02 Đánh giá từ Chủ Đầu Tư

Mô hình 02 tập trung vào các yếu tố xuất phát từ Chủ Đầu Tư hoặc Tư Vấn. Kết quả cho thấy, các thay đổi thiết kế và yêu cầu kỹ thuật từ Chủ Đầu Tư là nguyên nhân chính gây ra công tác ngoài kế hoạch. Mô hình này giúp Nhà Thầu Chính tính toán được mức độ phát sinh và khiếu nại hợp lý.

III. Ứng dụng thực tế và giải pháp

Nghiên cứu áp dụng mô hình đánh giá vào một dự án nhà cao tầng thực tế. Kết quả cho thấy, việc sử dụng BBNs giúp Nhà Thầu Chính kiểm soát tốt hơn các công việc phát sinh và giảm thiểu rủi ro. Các giải pháp được đề xuất bao gồm tăng cường phối hợp giữa các bên, cải thiện quy trình thi công, và xây dựng kế hoạch dự phòng.

3.1. Áp dụng vào dự án thực tế

Nghiên cứu áp dụng mô hình đánh giá vào một dự án nhà cao tầng. Kết quả cho thấy, các công tác ngoài kế hoạch gây ra sự chậm trễ đáng kể và tăng chi phí. Việc sử dụng BBNs giúp Nhà Thầu Chính xác định được các yếu tố rủi ro và đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời.

3.2. Giải pháp hạn chế công tác ngoài kế hoạch

Các giải pháp được đề xuất bao gồm tăng cường phối hợp giữa Chủ Đầu Tư, Tư Vấn, và Nhà Thầu Chính. Ngoài ra, việc cải thiện quy trình thi công và xây dựng kế hoạch dự phòng cũng được khuyến nghị để giảm thiểu công việc phát sinh và đảm bảo tiến độ dự án.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: DAT VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung Out-of-sequence (OOS) — Công tác ngoài kế hoạch trong quá trình thi công là một nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp chính gây thiệt hại năng suất, vượt chi phí và tiến độ, giảm lợi nhuận cho Nhà Thau, và làm giảm chất lượng cho các dự án xây dựng của Chủ Dau Tư. Do sự phức tạp của giai đoạn thi công các dự án xây dựng, các tác động như vậy có thé là tuyến tính, phi tuyến, đột ngột, chậm trễ, lan truyền hoặc khong liên tục. Một công tác thay đổi trên đường găng có thé dẫn đến những thay đổi không lường trước được trong các công tác kế tiếp hay công tác còn lại đã được lập kế hoạch từ ban đầu sau khi ký kết Hợp Đồng.

Sự thay đối nhỏ làm phá vỡ đi kế hoạch được dé ra hay dòng chảy liên tục của tiến độ thi công dự án. OOS được định nghĩa bởi /bbs et al. (2017) như sau: “a condition in which the originally planned, and probably most efficient and logical, work sequence is interrupted and changed ”. Tam dịch: “ các công tác năm ngoài chuỗi các kế hoạch ban dau đã được dé ra hiệu quả va hợp lý, sé dẫn đến chuỗi công việc trong kế hoạch đó bị gián đoạn và thay đối”.

Thay đối này có thé được gây ra bởi việc thay đối các tiêu chuẩn kỹ thuật, kế hoạch, thiết kế, máy móc, thiết bị, vật liệu, công nghệ được sử dụng, cơ sở vật chất tạm thời, thời gian thực hiện, nhân sự, biện pháp thi công và các điều kiện bên ngoài. [1] Những việc thay đổi này sẽ dẫn đến các công tác nam ngoài kế hoạch ban đầu gọi là các công tác ngoài kế hoạch (OOS) cùng với việc kiểm soát không chặt chẽ va phương án giải quyết chậm trễ sẽ dẫn đến việc giảm năng suất lao động, phát sinh thêm chi phí, chậm trễ tiễn độ.gây tốn thất cho các bên liên quan. Tuy nhiên bên cạnh đó có những công tác OOS xuất phát từ phía các Bên khác như Chủ Đầu Tư/ Tư Vấn làm ảnh hưởng đến kế hoạch dự án ban đầu đề ra nhưng nếu được kiểm soát chat chẽ và hiệu qua từ ban dau sẽ là cơ hội dé Nhà Thâu Chính có quyên khiêu nại các Đoàn Thị Ngọc Hân Trang 12 MSSV: 1670614 Luận văn thạc sỹ phát sinh từ Chủ Dau Tu và các bên liên quan khác giúp kiểm soát được ngân sách và lợi nhuận mong muốn của Nhà Thau Chính cho dự an. [14] Trên thế giới, phương thức thực hiện dự án “ Thiết kế - Xây dựng” (Design — Build) đang được sử dụng rộng rãi và phố biến không kém phương thức truyền thống “Thiết kế - Đấu thầu — Xây dựng” (Design — Bid — Build) va đã được Việt Nam áp dụng trong những năm gan đây cho các dự án xây dựng.

Tuy nhiên, sư phát triển của phương thức này vẫn còn rất nhiều hạn chế và khó khăn đối với các Tổng thầu trong nước vì đa số các Tổng thầu xây dựng trong nước chưa đủ khả năng để kiểm soát các rủi ro trong quá trình thiết kế lẫn thi công cùng lúc. Vì vậy, Phương thức truyền thống Thiết kế - Dau thầu — Thi công vẫn còn dang được ưu tiên sử dụng trong lĩnh vực xây dựng Việt Nam hiện nay. Đối với các dự án xây dựng, thì quá trình thi công là quá trình phức tạp, mang đến nhiều rủi ro và khó khăn nhất cho Nhà Thau Chính vì phải trực tiếp phối hợp và làm việc với các bên như Chủ Đầu Tư, Tư Vấn, nhà thầu phụ, nhà thầu chỉ định, nhà cung cap,.O giai đoạn dau thầu, Nhà Thầu Chính phải kiểm soát khối lượng hồ sơ kỹ thuật (Ban vẽ, specs,. cho các phân kiến trúc, kết câu, MEP, cảnh quan,.) kha nhiéu với thời gian han hẹp dao động 20 ngày theo Luật đấu thâu thi khó tránh khỏi những rủi rõ tiềm ân về sự sai sót, không đồng bộ,.được ban giao từ Chu Đầu Tư sau khi ký kết Hợp Dong.

Điều đó, sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan lý khối lượng phát sinh sau này, ảnh hưởng đến tiến độ, kế hoạch, chi phí hay dòng tiền của Nhà Thau Chính so với kế hoạch đã thực hiện ban đầu. Có rất nhiều nghiên cứu thực hiện việc điều tra những nguyên nhân dẫn đến việc giảm năng suất lao động của công nhân hay sự tốn thất trong xây dựng và trong đó công tác ngoài kế hoạch OOS là nguyên nhân chính. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu tập trung chính đến các hậu quả và lợi ích từ những nguyên nhân gây nên OOS gây ra dé từ đó có thé giúp các bên hạn chế được những khó khăn, ton thất hay tạo ra những lợi ích. Do đó, nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc “ Tìm ra mức độ ảnh hưởng của những nhân tố chính gây ra các công tác OOS của Nhà Thau Chính trong giai đoạn thi công dự án nhà cao tang theo hai hướng bat lợi và có lợi cho Nhà Thau Chính đến kế hoạch thi công dự án đề ra ban đầu.

Từ đó, xây dựng mô hình đánh giá ảnh hưởng của Đoàn Thị Ngọc Hân Trang 13 MSSV: 1670614 Luận văn thạc sỹ các nguyên nhân gây ra công tác OOS đến kế hoạch dự án và kiểm soát công việc phát sinh của Nhà Thâu Chính. Việc kiểm soát các công việc phát sinh sẽ giúp Nhà Thau Chính có thể cảnh báo sớm để các Bên cùng phối hợp và đưa ra phương hướng giải quyết sớm các van dé, có khả năng đem lại các kết qua tốt hơn hay giảm bớt mat mát cho cả hai Bên thay vì tốn quá nhiều thời gian đến lúc phát hiện ra thì mọi việc đã quá tệ và không có đường giải quyết. Đồng thời, làm tránh và giảm đi các suy nghĩ tiêu cực, tranh cãi giữa các Bên trong quá trình hợp tác và ảnh hưởng đến sự thành công của dự án. Xác định vẫn đề nghiên cứu Xác định được các nhân tô gây ra các công tác OOS của Nhà Thau Chính ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án dé ra ban dau là cơ sở dé Nhà Thâu Chính đánh giá mức độ rủi ro hay lợi ích của các công tác OOS đến quá trình thi công.

Việc xây dựng mô hình đánh giá mức độ ảnh hưởng của các công tác OOS giúp cho Nhà Thau Chính kiểm soát được các công việc phát sinh đem lại hiệu quả tích cực cho Nhà Thau Chính. Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tô chính gây ra công tac OOS làm ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến kế hoạch (về tiễn độ và chi phí ban đầu dé ra) thi công dự án trong quá trình thi công nhà cao tâng trên vai trò Nhà Thầu Chính đối với gói thầu thi công. Xây dựng mô hình BBNs đánh giá sự thay đổi về tiến độ và chi phí của dự án dựa trên tat cả các nhân tố gây ra công tác OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án, so với tiễn độ và chi phí ban đầu đề ra của Nhà Thâu Chính sau khi ký Hợp Đồng. (mô hình 01) Xây dựng mô hình BBNs đánh giá sự thay đổi về tiến độ va chi phí của dự án dựa trên các nhân tổ (do Chủ Đầu Tư hoặc Tư Van) gây ra các công tác OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án.

(mô hình 02) Dựa vào mô hình 01 và 02, giúp Nhà Thầu Chính kiểm soát các công việc phát sinh của Nhà Thau Chính Áp dụng mô hình vào 01 dự án nhà cao tầng thực tế đang tham gia. Đoàn Thị Ngọc Hân Trang 14 MSSV: 1670614 Luận văn thạc sỹ Tim ra giải pháp để hạn chế xảy ra các công tác OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án và giải pháp làm hạn chế các phát sinh do các công tác ngoài kế hoạch gây ra khi thi công dự án. Phạm vi nghiên cứu Không gian: Dữ liệu được lấy, khảo sát tại các dự án chung cư cao tầng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các Tỉnh miền Trung. Thời gian Các dự án được thực hiện từ năm 2017- nay.

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố gây ra công tác ngoài kế hoạch OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án (tiễn độ và chi phi) đề ra ban đầu theo Hợp Đồng về gói thầu thi công nhà cao tang trên vai trò là Nhà Thâu Chính. Mô hình BBNs đánh giá sự thay đối về tiễn độ và chi phí của dự án dựa trên tất cả các nhân tố gây ra công tác OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án, so với tiễn độ và chi phí ban đầu dé ra của Nha Thau Chính sau khi ký Hop Đồng. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Kế hoạch dự án bao gồm chi phí và tiễn độ ban dau theo Hợp Dong về gói thầu Thi Công Nhà Cao Tang theo phương pháp truyền thong Thiết Kế - Dau Thau — Thi Công (Design — Bid — Build). Nghiên cứu chỉ tập trung đến gói thâu thi công theo phương pháp truyền thống Thiết Kế - Dau Thau — Thi Công (Design — Bid — Build) và được hiểu là Nhà Thầu Chính không can thiệp và tham gia vào giai đoạn thiết kế (dự án được thiết kế theo mô hình Bim hoặc không).

Đối tượng khảo sát Ban chỉ huy công trường (PD, PM, QS manager,.) và các kỹ sư đang công tác tại các dự án xây dựng nhà cao tầng tại thành phố Hồ Chí Minh va các dự án mà Công ty đang thực hiện Đoàn Thị Ngọc Hân Trang 15 MSSV: 1670614 Luận văn thạc sỹ 1. Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 1. Về mặt học thuật - _ Xây dựng Mô hình BBNs đánh giá sự thay đối về tiễn độ và chi phí của dự án dựa trên tat cả các nhân t6 gây ra công tác OOS làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công dự án, so với tiễn độ và chi phi ban đầu dé ra theo Hợp Đồng về gói thầu thi công của Nhà Thau Chính sau khi ký Hợp Đồng. Về mặt thực tiễn - _ Xây dựng mô hình BBNs đánh giá sự thay đổi về tiến độ và chi phí của dự án dựa trên tat cả các nhân tố gây ra công tác OOS, so với tiễn độ và chi phí ban đầu dé ra của Nhà Thau Chính sau khi ký Hợp Đồng.

(mô hình 01) - _ Xây dựng mô hình BBNs đánh giá sự thay đổi về tiến độ và chi phí của dự án dựa trên các nhân tố (do Chủ Đầu Tư hoặc Tư van) gây ra các công tác OOS, tính được yêu cầu phát sinh từ phía Chủ Đầu Tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Mô hình đánh giá ảnh hưởng công tác ngoài kế hoạch đến thi công dự án và kiểm soát công việc phát sinh" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các công việc phát sinh ngoài kế hoạch có thể ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thi công dự án. Tài liệu này không chỉ giúp các nhà quản lý dự án nhận diện và đánh giá các rủi ro tiềm ẩn mà còn đưa ra các giải pháp để kiểm soát và giảm thiểu tác động của chúng. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực trong việc áp dụng mô hình này vào thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo sự thành công của dự án.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý rủi ro trong xây dựng, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng quản lý rủi ro trong xây dựng dự án thủy điện huội quảng", nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quản lý rủi ro trong một lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công tại công ty tnhh mtv dịch vụ công ích quận 4" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình quản lý chất lượng trong thi công. Cuối cùng, tài liệu "Tiểu luận quản trị rủi ro quy trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về quản trị rủi ro trong các doanh nghiệp, giúp bạn áp dụng các nguyên tắc này vào lĩnh vực xây dựng.