Chương 1: Tổng quan về đồ án tốt nghiệp: Đưa ra được vấn đề cũng như vì sao chọn đề tài, nói về mục tiêu và các nội dung sẽ được nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Tổng quát về sơn và các thiết bị được sử dụng. - Chương 3: Tính toán thiết kế và lựa chọn thiết bị: Từ các tiêu chí, đưa ra thông số đầu vào thù đó có thể tính toán thiết kế. - Chương 4: Thi công hệ thống: Kết quả phần cơ khí, mô tả giải thuật, chương trình điều khiển, giám sát HMI - Chương 5: Thực nghiệm: Đưa ra kết quả thực nghiệm và đánh giá.
- Chương 6: Kết luận: Những thành quả mà nhóm đã thiết kế được, ưu điểm và nhược điểm của đề tài 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về màu sơn và pha trộn sơn 2. Khái quát về sơn Trước hết ta thấy sơn có tác dụng che phủ bề mặt vật liệu tránh được tác động phá hoại của tác nhân bên ngoài. Nó được áp dụng đại trà vì có thể không những tô màu, mà còn tạo nên một kết cấu bảo vệ.
Sơn thường được bán,sơn và lưu trữ dưới dạng chất lỏng, nhưng hầu hết các loại sơn không trở thành chất rắn. Hầu hết các loại sơn đều có thể có gốc dầu hoặc gốc nước và mỗi loại đều có những tính năng đặc biệt riêng. Sơn được sử dụng để: - Trang trí. - Tạo kết cấu.
Sơn ở dạng nước thường được sử dụng để kinh doanh, bán kèm theo một catalog có đa dạng màu sắc khác nhau, có thể dùng để che phủ với độ bám dính linh hoạt. 1 Các lon sơn đã được pha màu 4 Các thành phần chính của sơn nước - Nhựa: chiếm khoảng từ 40% đến 60% tùy theo sơn thành phẩm. Các hợp chất hữu cơ bao gồm Alkyd, Acrylic, Epoxy, Polyurethane, Fluorocarbon. Khả năng liên kết giữa các thành phần của sơn, tạo độ kết dính và có độ bền màu cho sơn được tạo ra từ các chất liệu này, từ đó tạo nên cấu trúc đặc biệt của sơn.
Trong đó có bột màu gốc và bột chống gỉ cuối cùng là bột màu bổ sung. - Chất phụ gia: chiếm tỉ lệ 0% ~ 5% tỉ lệ. Là tác nhân có vai trò quan trọng không những tăng các độ bền cho sơn mà còn có khả năng kháng được các tác nhân xấu từ môi trường, từ đó giúp tăng độ bóng, độ cứng và độ phủ màu sơn, bảo quản khỏi nấm mốc - Dung môi: 10% ~ 30% , giúp hòa tan 2 thành phần bột màu và nhựa. - Còn có một số thành phần phụ như chất kết dính, bột độn.
Quy trình sản xuất sơn Hình 2.2 Hình ảnh cho thấy quy trình sản xuất Quy trình sản xuất sơn sẽ được biểu hiện như trên hình trên Công đoạn 1: Khâu chuẩn bị nguyên liệu Công đoạn 2: Pha trộn sơn theo tỉ lệ Cộng đoạn 3: Công đoạn khuấy, pha loãng và chiết rót Công đoạn 4: Vận chuyển và tiêu thụ Trong đó gồm 4 giai đoạn: 5 Ủ muối: Giai đoạn ủ muối sẽ là quá trình đầu tiên của sản xuất sơn. CaCO3, silica và đất sét , bột màu và bột độn sẽ là các nguyên liệu cần thiết. Sau đó, những nguyên liệu này được đưa vào thùng muối ủ và khuấy ở một tốc độ thấp. Có thể kéo dài từ 2 đến 5 giờ, cho đủ thời gian để chất tạo màng và dung môi thấm ướt đều các thành phần.
Sau khi đạt được độ thấm ướt cần thiết, một hỗn hợp nhão sẽ được tạo thành, sẵn sàng cho giai đoạn công đoạn kế tiếp. Nghiền sơn: Hỗn hợp có được từ công đoạn trước được chuyển vào cơ cấu chuyên để nghiền sơn. Một chất lỏng mịn và nhuyễn sẽ được cấu tạo từ công đoạn này. Trong quá trình nghiền, cần đảm bảo không để hỗn hợp tăng nhiệt độ.
Việc dung môi bay hơi là điều thiết yêu cần kiểm soát, ảnh hưởng đến tính chất của thành phần paste nghiền. Khuấy sơn: Khi độ mịn của hỗn hợp đạt theo đúng theo yêu cầu, 2 yếu tố bao gồm sắc tố hoạt chất và các chất phụ gia sẽ được pha trộn.Công đoạn diễn ra trong bồn pha, máy khuấy sẽ khuấy Paste liên tục. Sơn nước sẽ tiếp tục được khuấy đều khi đủ dung môi và chất tạo màng để hòa tan các thành phần. Sau khi hoàn thành giai đoạn pha trộn này, quá trình sản xuất sơn nước sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo.
Đóng gói thành phẩm: Công đoạn này có thể thực hiện bằng cách sử dụng dây chuyền tự động hoặc thủ công, tùy thuộc vào quy mô và yêu cầu của công ty sản xuất sơn. ❖ Một số dây chuyền, sản xuất ở một số nhà máy sơn hiện nay Hình 2. 2 Sơn được sản xuất dây chuyền ở Dubai 6 Hình 2. 3 Sơn được sản xuất dây chuyền ở ICI Dulux, KCN Mỹ Phước 2, Bình Dương Hình 2.
4 Sơn được sản xuất dây chuyền Lavisson, Bình Dương 2. Quy luật trộn màu sơn ❖ Khái niệm màu sắc Theo quang học: Khi ánh sáng trắng đi qua lăng kính mặt trời, nó được tách thành 7 sắc màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím. Điều này xuất hiện do các loại ánh sáng có bước sóng khác nhau, mỗi màu đại diện cho một bước sóng cụ thể. Vì vậy, từ góc độ quang học, chúng ta có thể khẳng định rằng màu sắc là các dạng ánh sáng khác nhau.
5 Dải màu từ đỏ tới tím của 7 sắc cầu vồng Hình 2. 6 Dải màu vô sắc ❖ Ba yếu tố cơ bản của màu sắc - Sắc (Tone): Đại diện cho độ đậm hoặc nhạt của một màu khi được pha trắng hoặc pha đen. - Quang độ (Value): Liên quan đến độ sáng hoặc tối của một màu, là sự tương quan giữa các mức độ đậm nhạt khác nhau. Ví dụ, trong vòng thuần sắc, vàng có độ sáng cao nhất, trong khi tím có độ sáng thấp nhất do sự thay đổi của ánh sáng.
- Cường độ (Intensity): Được sử dụng để đánh giá mức độ mạnh hay yếu của một màu (độ tươi sáng) dựa trên cảm quan thị giác. 7 Quang độ và cường độ của hai màu Các quy luật pha màu Có 2 quy luật pha màu bao gồm - Cộng màu 8 - Trừ màu ⮚ Quy luật cộng màu: Đỏ (Red - R), lục (Green - G) và lam (Blue - B) là ba màu sơ cấp (hay màu cơ bản) trong ánh sáng. 8 Quy luật cộng màu hệ màu RGB - Ánh sáng lục hòa với ánh sáng đỏ sẽ cho ra ánh sáng vàng (Yellow - Y). - Ánh sáng lam hòa với ánh sáng lục sẽ cho ra ánh sáng màu da trời (Cyan - C).
- Ánh sáng lam hòa với đỏ cho ánh sáng tím hồng (Magenta - M). Tím hồng là màu khá gần với màu tím (Violet). Tím hồng (Magenta) là màu không có trong phổ ánh sáng tự nhiên. ⮚ Các màu thứ cấp của ánh sáng bao gồm màu tím hồng (M), vàng (Y), và da trời (C), bởi vì bản chất được tạo ra bằng cách hòa hai chùm ánh sáng màu sơ cấp (primary).
Khi hòa cả ba chùm ánh sáng sơ cấp R (đỏ), G (xanh lá cây), B (xanh dương) với nhau, ta sẽ có ánh sáng trắng. Điều này được gọi là quy luật cộng màu. ⮚ Quy luật trừ màu: Quy luật này bị ngược lại đối với màu hóa chất như mực in, phẩm nhuộm, sơn: Ba màu sơ cấp là tím hồng (Magenta - M), da trời (Cyan - C), và vàng (Yellow - Y) 9 Hình 2. 9 Quy luật trừ màu trong hệ màu CMYK - Tím hồng (M) hòa da trời (C) cho lam (Blue - B) - Da trời (C) hòa với vàng (Y) cho lục (Green - G) - Vàng (Y) hòa với tím hồng (M) cho đỏ (Red - R) Vật chất không tự có màu sắc (trừ những vật tự phát sáng) vì thế nên màu hóa chất tuân theo quy luật trừ màu, mà chỉ tương tác với ánh sáng bên ngoài.
Khi ánh sáng chiếu vào một vật chất, nó sẽ tán xạ và hấp thụ các bước sóng ánh sáng đơn sắc có trong ánh sáng. Màu sắc của vật chất phụ thuộc vào khả năng hấp thụ và tán xạ các bước sóng ánh sáng khác nhau. 10 Kết hợp 2 màu của sơn và ánh sáng (vàng+lam) 10 Hình 2. 11 Kết hợp 2 màu của sơn và ánh sáng (lam+đỏ) Hình 2.
12 Kết hợp 2 màu của sơn và ánh sáng (đỏ+lục) ❖ Quyết định nguyên lý pha màu của đề tài Các hạt màu trong màu sơn trong thực tế không phải là các màu sơ cấp lý tưởng như trong bảng pha màu. Điều này khiến cho công đoạn pha màu sơn trở nên phức tạp hơn, và bảng pha màu chỉ có tác dụng định hướng và cung cấp các màu gần đúng. Những hãng sơn cần nghiên cứu và nắm được cách pha trộn màu sơn một cách chính xác để tạo ra các màu khác nhau. Điều này cần một quá trình nghiên cứu của các chuyên gia và nghiên cứu chi tiết trong quy trình sản xuất.
Họ phải tìm cách tạo ra các công thức pha màu sơn riêng biệt, điều chỉnh tỉ lệ và hỗn hợp màu sắc để đạt được các màu sơn đáp ứng yêu cầu và tiêu chuẩn của sản phẩm cuối cùng. 13 Bảng màu hình tròn được sử dụng Trong đề tài, nguyên tắc pha màu tuân theo quy luật trừ màu sẽ được nhóm chúng em áp dụng, và màu đỏ (Red – R), vàng (Yellow – Y) và lam (Blue – B) sẽ là 3 màu cơ bản được chọn 3 màu thứ cấp lúc này sẽ là: ⮚ Đỏ hòa với Vàng -> Da cam (Orange) ⮚ Vàng hòa với Lam -> Lục (Green) ⮚ Lam hòa với Đỏ -> Tím (Violet) Hình 2. 14 Các cấp trong bảng màu được chọn 12 Màu sơn sơ cấp: Màu xanh, màu đỏ và màu vàng là những màu chính trong hệ thống màu sơn. Các màu sơn chính này không thể được "tạo ra" bằng cách trộn bất kỳ màu nào với nhau.
Điều này đồng nghĩa rằng ba màu cơ bản này tạo nên cơ sở cho các màu khác mà chúng ta thấy trên bảng pha màu hoặc bánh xe màu. Màu sơn thứ cấp: Ngoài ra còn có 3 màu sơn thứ cấp trên một bánh xe màu. Khi bạn hòa 2 màu chính với nhau với số lượng bằng nhau thì sẽ tạo ra chúng. Đỏ + xanh = tím ,xanh + vàng = xanh, vàng + đỏ = cam.
15 Ví dụ về cộng màu Màu trung gian: Màu sơn trung gian sẽ gồm 6 màu còn lại. Chúng được tạo ra bằng kết hợp màu sơ cấp với màu thứ cấp liền kề.