Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Hoạt động quan trắc môi trường 1. Một số khái niệm về quan trắc môi trường Theo luật bảo vệ môi trường 2005, quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động đến môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường[11]. Ngoài ra, còn có nhiều khái niệm về quan trắc môi trường, chẳng hạn, theo ESCAP (Ủy ban Kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dương),1994 thì quan trắc môi trường chỉ một quy trình lặp đi lặp lại các hoạt động quan sát và đo lường một hay nhiều thông số chất lượng môi trường, để có thể quan sát được những thay đổi diễn ra trong một khoảng thời gian.
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm: - Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường. - Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng trọng điểm được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. - Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường. - Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế[7].
Các nội dung của quan trắc môi trường: 3 Nguyễn Đình PhúcLớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường Nhiệm vụ hàng đầu của quan trắc môi trường là đáp ứng nhu cầu thông tin trong quản lý môi trường, do đó có thể xem QTMT là một quá trình bao gồm các nội dung sau đây: - Quan trắc môi trường sử dụng các biện pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và quản lý tổ chức nhằm thu thập thông tin: mức độ, hiện tràng, xu thế biến động chất lượng môi trường. - Quan trắc môi trường phải được thực hiện bằng một quá trình đo lường, ghi nhận thường xuyên và đồng bộ chất lượng môi trường và các liên quan đến chất lượng môi trường (UNEP). Lịch sử hình thành và phát triển quan trắc môi trường 1. Hoạt động quan trắc môi trường trên thế giới Ngay khi thành lập (1972), UNEP đã khởi xướng hệ thống quan sát trái đất (Earthwatch).
Từ năm 1973, một nhánh của Earthwatch cùng với tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thiết lập hệ thống giám sát môi trường toàn cầu GEMS (Global Environmental Monitoring System). GEMS có mục tiêu thu thập các thông tin môi trường nền của thế giới và khu vực bao gồm các thông tin về môi trường nước, không khí và thực phẩm. Cũng trực thuộc GEMS còn có GEMS/Air (chương trình quan trắc và đánh giá ô nhiêm không khí đô thị) do WHO điều hành trực tiếp. Tính từ 1973 - 1997, GEMS/Air Network gồm 270 điểm ở 86 thành phố thuộc 45 quốc gia.
Mạng lưới trạm này được phân bố trên các thành phố lớn trên toàn thế giới với nhiệm vụ thu thập và đánh giá chất lượng không khí tại khu vực đô thị. Các trạm quan trắc được vận hành bởi chính quyền thành phố hay quốc gia ở các nước công nghiệp và đang phát triển. Các số liệu thu thập được đưa vào ngân hàng dữ liệu tại Cục Môi trường Mỹ (US.EPA) tại bang Carolina. Các số liệu sau khi được xử lý được in định kỳ (WHO/UNEP / 1984-1988) [10].
4 Nguyễn Đình PhúcLớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường Đến năm 1996, WHO phát triển hệ thống thông tin quản lý không khí (Air Management Information System, AMIS) kế tục GEMS/Air. Từ 1989, chương trình theo dõi khí quyển toàn cầu GAW (thuộc tổ chức khí tượng thế giới WMO) đã nghiên cứu phát triển mạng lưới quan trắc các tác nhân ảnh hưởng tới chất lượng không khí và khí quyển toàn cầu. Tiền thân của GAW bắt đầu từ cuối những năm 1960 khi mạng lưới quan trắc ô nhiễm không khí nền (Background Air Pollution Monitoring Network - BAPMoN) được thành lập bởi WMO. Đến năm 1989, BAPMoN hợp nhất với hệ thống quan trắc ozon toàn cầu (Global Ozone Observing System) thành chương trình theo dõi khí quyển toàn cầu (Global Atmosphere Watch - GAW).
Mục tiêu của GAW là quan trắc sự biến đổi dài hạn thành phần khí quyển ở quy mô toàn cầu và khu vực nhằm đánh giá sự đóng góp vào biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) phối hợp và đánh giá các đo đạc hóa học khí quyển và các thông số vật lý liên quan đến sự biến đổi khí hậu (các khí nhà kính, ozone và các aerosol); (2) đánh giá ảnh hưởng của hóa học khí quyển lên môi trường, bao gồm sự ô nhiễm đô thị và ô nhiễm xuyên biên giới (chất lượng không khí, mưa acid, suy giảm tầng ozone bình lưu và gia tăng bức xạ UV). Mạng lưới trạm của GAW bao gồm: (1) 22 trạm toàn cầu đặt tại những nơi có nồng độ nền các chất ô nhiễm thấp, đại diện cho các khu vực địa lý rộng lớn, thường sử dụng cho mục đích nghiên cứu sự thay đổi khí hậu và suy giảm tầng ozone; (2) khoảng 400 trạm khu vực, thường đo đạc liên quan đến các vấn đề mang tính khu vực như: mưa acid, vận chuyển các chất khí và aerosol lượng vết, bức xạ UV cục bộ; (3) và các trạm cộng tác hay liên kết. Ngoài các tổ chức trên, còn có các định chế quốc tế khác về quan trắc môi trường như: IGBP (International Geosphere-Biosphere Programme) - chương trình Địa-Sinh quyển quốc tế; hay IPCC (Intergovernmental Panel on Climate change) - Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu.
5 Nguyễn Đình PhúcLớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường Tại các quốc gia phát triển, cùng với Mỹ, CHLB Đức chịu những hậu quả nghiêm trọng về môi trường do kinh tế phát triển. Tuy nhiên, chính điều đó đã tạo nên 2 nước có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực nghiên cứu và triển khai công tác bảo vệ môi trường. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến để giảm thiểu chất thải đã được hai quốc gia trên tiến hành từ nhiều năm nay, trong đó có rất nhiều các mạng lưới quan trắc môi trường với số liệu thu thập từ hàng chục năm nay. Tại Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia có hệ thống quan trắc môi trường phát triển mạnh và sớm nhất.
Hiện nay, cơ quan quản lý môi trường Quốc gia Thái Lan điều hành hoạt động các trạm quan trắc và phân tích môi trường cấp Trung ương. Hiện tại, Bangkok có 8 trạm quan trắc chất lượng không khí cố định, tự động, Samuttprakarn có 4 trạm, 2 trạm di động quan trắc tại nhiều thành phố khác và vùng bờ biển phía Đông. Các thông số quan trắc tự động liên tục bao gồm: SO2, NO2, HC, O3. Các mẫu khí được lấy theo thời gian 3 ngày một lần để phân tích trong phòng thí nghiệm các thông số: Chì (Pb) và bụi PM10 [12].
Hiện tại, việc đánh giá chất lượng môi trường không khí đã có nhiều bước tiến đáng kể, công tác quan trắc đã được cải thiện nhiều hơn với các ứng dụng khoa học công nghệ mới và cả công nghệ thông tin. Nhiều mạng lưới các trạm tự động đã được nhiều nước công nghiệp phát triển ứng dụng để tăng sự chính xác và sự liên tục theo không gian và thời gian. Các thiết bị hiện đại và tự động toàn bộ trong thu mẫu, phân tích và kể cả truyền số liệu về trung tâm nghiên cứu. Mặc dù vậy, chi phí cho các hệ thống này khá lớn và cũng chỉ mới áp dụng ở diện hạn chế nhất định về không gian hoặc theo nhu cầu cụ thể, trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên.
Các tổ chức về bảo vệ môi trường cũng khuyến các việc sử dụng này cần có sự phối hợp quốc gia, khu vực và toàn cầu để đảm bảo tính kinh tế và khoa học. Hoạt động quan trắc môi trường ở Việt Nam Tại Việt Nam, hoạt đông quan trắc môi trường được bắt đầu từ khá sớm, ngay từ năm 1902, toàn quyền Đông Dương đã cho thành lập Đài quan sát Từ trường và Khí tượng Phủ Liễn (Hải Phòng); khởi đầu xây dựng mạng lưới khí tượng 6 Nguyễn Đình PhúcLớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường thủy văn. Đến năm 1939, đã có 54 trạm khí tượng và 56 trạm thủy văn được xây dựng. Đến năm 1985, ra nghị quyết 246/HĐBT ngày 20/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Năm 1994, sau khi luật BVMT được ban hành, Việt Nam bắt đầu hình thành hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường Quốc gia, phục vụ các báo cáo hiện trạng môi trường. Ngày 29/01/2007, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 16/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020”. Theo đó, mục tiêu tổng quát của hoạt động quan trắc đến năm 2020 là xây dựng mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia bảo đảm thống nhất trên phạm vi cả nước, đồng bộ, tiên tiến và từng bước hiện đại, đáp ứng nhu cầu thu thập và cung cấp thông tin, số liệu điều tra cơ bản về môi trường, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, phục vụ có hiệu quả cho công tác xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường, dự báo, cảnh báo, phòng, tránh, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, phát triển mạnh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. Mạng lưới quan trắc môi trường 1.
Khái niệm và tầm quan trọng của mạng lưới quan trắc môi trường Mạng lưới quan trắc môi trường là một hệ thống các điểm quan trắc được thiết lập dựa vào mối liên kết các loại số liệu đo đạc về mặt thống kê và không gian phân bố, đảm bảo khả năng phản ánh chính xác hiện trạng môi trường cho toàn bộ khu vực nghiên cứu. Các yêu cầu trong thiết kế mạng lưới quan trắc môi trường bao gồm: 7 Nguyễn Đình PhúcLớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường - Thiết kế mạng lưới QTMT phải được một nhóm chuyên gia có kiến thức đa ngành thực hiện. Thiết kế mạng lưới cần xác định thông số nào phải quan trắc, quan trắc ở địa điểm nào và với tần suất là bao nhiêu.