mở đầu chiến dịch từ phía nam Iraq và tiến lên thủ đô Iraq. Iraq có lợi thế hơn khi là bên phòng thủ, do đó các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ tìm cách phân tán lực lượng Iraq bằng cách gây sức ép từ phía Bắc. Để thực hiện được chiến lược này, Mỹ phải thuyết phục được lực lượng dân quân người Kurd ở miền bắc Iraq để hợp tác với họ. Ở miền nam Iraq, lực lượng kháng chiến lớn nhất đối với quân đội Hoa Kỳ khi họ tiến lên phía bắc được biết đến với cái tên Fedayeen Saddam.
Tương tự, quân đội 40 Tlđd tại chú thích số 37.Bush (2003), “President says Saddam Hussein must leave Iraq within 48 hours”, The White House, https://georgewbush-whitehouse.gov/news/releases/2003/03/20030317-7.html, tham khảo ngày 12/05/2022.com Editors (2009), “War in Iraq begins”, A&E Television Networks, https://www.com/this- day-in-history/war-in-iraq-begins, tham khảo ngày 11/05/2022. 17 Anh cũng đối đầu với nhóm chiến binh này khi triển khai các chiến dịch xung quanh thành phố Barsa ở phía nam.43 “Chúng tôi không ngờ người Iraq có thể chiến đấu đến vậy. Chúng tôi không tin điều đó”, một cực đặc nhiệm SBS của Anh cho biết. “Đó là cú sốc cho chúng tôi khi đối mặt với sự kháng cự như vậy”.44 Tại miền trung Iraq, các lực lượng Vệ binh Cộng hòa – một nhóm bán quân sự được trang bị vũ khí có liên hệ với đảng cầm quyền – đã được triển khai để bảo vệ thủ đô Baghdad.
Mặc dù sự kháng cự của Iraq đôi khi rất mạnh mẽ, nhưng lực lượng quân đội và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã nhanh chóng giành quyền kiểm soát sân bay quốc tế của Baghdad vào ngày 4 tháng 4 và tiếp tục tổ chức các cuộc đột kích vào trung tâm thành phố. Vào ngày 9 tháng 4, Baghdad thất thủ, binh lính Hoa Kỳ đã giành quyền kiểm soát thành phố, đồng thời trong cùng ngày, lực lượng quân đội Anh cuối cùng cũng bảo vệ được Barsa. Mọi chuyện dường như êm đẹp cho đến khi Thổ Nhĩ Kỳ quyết định cấm các lực lượng mặt đất Mỹ dùng lãnh thổ của mình để tấn công phía bắc Iraq và đình chỉ việc cho phép các phi cơ quân sự Mỹ bay qua không phận. 45 Bất chấp điều đó, một trung đoàn lính dù Mỹ đã thả xuống khu vực này và các binh sĩ Lực lượng đặc biệt của Mỹ cùng với các chiến binh Peshmerga của người Kurd đánh chiếm các thành phố phía bắc trong hai ngày 10 và 11 tháng 4.
Quê hương của Saddam ở Tikrīt, thành trì lớn cuối cùng của chế độ, đã chính thức sụp đổ với sự kháng cự ít ỏi vào ngày 13 tháng 4. Ngày 1 tháng 5 năm 2003, Tổng thống Bush tuyên bố “sứ mệnh hoàn thành” và chấm dứt các cuộc tác chiến lớn ở Iraq. Các nhà lãnh đạo Iraq đã bỏ trốn và là đối tượng bị lực lượng Hoa Kỳ truy lùng gắt gao. Sau các cuộc truy lùng này, lính Mỹ tìm thấy Saddam Hussein trốn trong một cái hố sâu sâu khoảng 1,8 đến 2,4 mét, cách thành phố quê nhà Tikrīt khoảng 14,5km.
Một người lính có mặt tại hiện trường mô tả ông ta là “người đàn ông đầu hàng trước 43 Tlđd tại chú thích số 37. 44 Nguyễn Tiến (2021), “Chiến dịch Mỹ “nở hoa trong lòng địch’ tại Iraq năm 2003”, VnExpress, https://vnexpress.net/chien-dich-my-no-hoa-trong-long-dich-tai-iraq-nam-2003-4295752.html, tham khảo ngày 12/05/2022.46 Saddam Hussein bị bắt giữ và chuyển giao quyền lực cho Chính phủ lâm thời Iraq. Sau đó, ông bị cáo buộc phạm các tội ác chống lại loài người và bị kết án tử hình bằng cách treo cổ. Sau khi kháng cáo bất thành, ông bị hành quyết vào ngày 30 tháng 12 năm 2006.
Phản ứng của công chúng về cuộc giao tranh 2. Phản ứng của cộng đồng quốc tế Trong bài phát biểu của tổng thống Bush vào tối ngày 17 tháng 3 đã thu hút sự quan tâm lớn của công chúng Mỹ về cuộc giao tranh. Theo một cuộc thăm dò của Washington Post – ABC News, 71% người dân Mỹ ủng hộ chiến tranh và 66% ủng hộ quyết định của tổng thống Bush mà không cần tìm kiếm thêm sự tán thành của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. 47 Với cuộc chiến đang diễn ra, các cuộc thăm dò cho thấy hơn 70% người Mỹ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến, theo số liệu của Washington Post – ABC News thì 69% người dân thấy rằng quyết định này là đúng đắn ngay cả khi không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt nào ở Iraq.48 Theo một cuộc thăm dò khác diễn ra ở Anh được tiến hành bởi YouGov vào tháng 3 năm 2003, khoảng 54% người Anh ủng hộ cho hành động quân sự chống lại Iraq.
Ngược lại, nhiều báo cáo lưu ý rằng chính sách của Hoa Kỳ đối với Iraq đã dẫn đến sự gia tăng chủ nghĩa chống Mỹ (antiAmericanism) đặc biệt ở các nước Tây Âu và Trung Đông, nơi các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự phản đối mạnh mẽ đối với cuộc chiến.49 Có thể thấy, sau 4 năm cuộc xâm lược Iraq nổ ra, các quốc gia ở Trung Đông như Ả Rập Saudi, Jordan, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Liban,… vẫn mang cái nhìn tiêu cực về vai trò của Mỹ ở Iraq.50 Tương tự, đa số các quốc gia khác như Pháp, Đức, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Thổ 46 Như trên. 47 “Washington Post-ABC News Poll: Bush’s Speech,”, The Washington Post, https://www.com/wp- srv/politics/polls/vault/stories/data031803.htm, , tham khảo ngày 13/05/2022.Copson (2003), “Iraq War: Background and Issues Overview”, CRS Report for Congress, RL31715, Congressional Research Service Library of Congress. 50 Zogby, James (2007), Four Years Later: Arab Opinion Troubled by Consequences of Iraq War, Arab American Institute. 19 Nhĩ Kỳ,… tin rằng thế giới an toàn hơn trước chiến tranh Iraq và sự lật đổ Saddam Hussein, trong khi Hoa Kỳ có quan điểm ngược lại.
Phản ứng của người dân Iraq Khi Saddam Hussein bị lật đổ, nhiều người dân Iraq đã đổ ra đường ăn mừng và cùng nhau lật đổ bức tượng Hussein. 51 Thêm vào đó, ngay sau cuộc xâm lược, cuộc thăm dò ý kiến chỉ ra rằng đa số người dân Iraq ủng hộ sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Cuộc thăm dò được tiến hành từ năm 2005 đến 2007 cho thấy 31-37% người Iraq muốn Hoa Kỳ và lực lượng đồng minh rút quân ngay sau khi an ninh được khôi phục và 26-35% muốn rút quân ngay lập tức. 52 Người dân Iraq cho rằng họ đang đi đúng hướng và việc lật đổ chế độ độc tài Saddam Hussein là hoàn toàn đúng đắn.
Phân tích sự đóng khung của truyền thông nước Mỹ lên chiến tranh Iraq 2. Cách các trang tin tức của nước Mỹ đưa tin về chiến tranh Iraq Trong bất cứ một cuộc xung đột nào thì phương tiện truyền thông đều đóng một vai trò quan trọng như một nguồn cung cấp thông tin tới công chúng, bao gồm cả kiểm soát quan điểm của công chúng và tác động tới chính trị. Bằng việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh và các video ghi nhận tại hiện trường cuộc chiến, họ có thể truyền đi các thông điệp và thông tin tới thế giới bên ngoài về mọi thứ xảy ra trong chiến tranh. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà phương tiện truyền thông cũng bị lợi dụng để tuyên truyền cho chiến tranh.
Truyền thông doanh nghiệp Hoa Kỳ chủ yếu bị chi phối bởi sáu tập đoàn toàn cầu: Comcast, Viacom, Time Warner, CBS, The News Corporation và Disney. Hoa Kỳ đã từng sử dụng truyền thông để thao túng các thông tin trong chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên việc đưa tin chiến tranh của các nhà báo Mỹ lại bị hạn chế hơn ở chiến tranh 51 Anton Antonowicz (2003), Toppling Saddam’s Statue Is the Final Triumph for the Oppressed People, The Mirror. 52 Program on International Policy Attitudes (2006), “The Iraqi Public on the US Presence and the Future of Iraq”, World Public Opinion.Org, https://web.org/web/20160824163145/http://www.org/pipa/pdf/sep06/Iraq_Sep06_rp t.pdf, tham khảo ngày 13/05/2022. 20 Iraq do Hoa Kỳ đã nhận thức được rằng, chính sách cho phép tự do tiếp cận truyền thông có thể khiến công chúng quay ra phản đối chiến tranh, giống như trong trường hợp của Việt Nam53.
Thuật ngữ “Embedded Journalism" lần đầu tiên được sử dụng trong việc đưa tin về chiến tranh Iraq năm 2003, thuật ngữ này mang ý nghĩa rằng cánh báo chí được đưa vào các đơn vị quân đội và đi cùng quân đội để lấy tin, bằng cách này thì chính phủ Hoa Kỳ có thể kiểm soát được phóng viên và nhà báo nào được ra vào hiện trường và cả những thông tin mà họ được phép tiếp nhận để đem tới cho công chúng. Cũng chính vì vậy mà mối quan hệ này bị chỉ trích vì nó làm mất đi sự độc lập và khách quan của các phóng viên khi các phóng viên chỉ được đưa tin những gì quân đội và các nhà cầm quyền muốn, đồng thời nó cũng thể hiện rằng giữa quân đội và truyền thông có tồn tại một mối quan hệ gắn bó mật thiết.54 Chiến tranh Iraq do Hoa Kỳ khởi xướng đã chiếm sự chú ý trên mọi mặt trận truyền thông kể từ đầu tháng 3 năm 2003. Các hãng truyền thông ở Hoa Kỳ đã gắn mác sự kiện Iraq bằng những cụm từ như “Chiến dịch tự do ở Iraq" hoặc “Chiến tranh Iraq". Các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ trong giai đoạn này đã bị chỉ ra là thiếu tích cực đưa tin về hoạt động trong chiến tranh Iraq.
FAIR - một tổ chức giám sát của Mỹ đã nói rằng New York Times đã phớt lờ những người phản đối chiến tranh trong nước. New York Times và Washington Post hầu như không đưa tin về những động thái phản đối chiến tranh tại Iraq ở Hoa Kỳ. Các nhà báo Mỹ không ngần ngại sử dụng những khẩu hiệu của Chính quyền Bush, chẳng hạn như "Saddam, bạo chúa và kẻ điên", liên kết Saddam Hussein với al-Qaeda và vụ tấn công khủng bố ngày 11/9, và cho rằng vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq là mối đe dọa trực tiếp đến Hoa Kỳ. 53 Noelle Forde (2019), “Agenda-Setting and Framing Effects in Both the Vietnam and Iraq Wars”, Graduate Theses, Dissertations, and Problem Report, 4205, https://researchrepository.edu/etd/4025, tham khảo ngày 13/05/2022.
54Aadil Amin Kak (2012), “Politician, media and words: vocabulary from the Iraq war”, Global Media Journal – Indian Edition/ISSN 2249-5835, Vol. 21 Các mạng lưới truyền thông của Hoa Kỳ còn cố tình kích động thái độ của công chúng với các phóng sự đặc biệt mang tên “Countdown Iraq” trên MSNBC hoặc “Cuộc đối đầu với Saddam” trên CBS. Giám đốc hãng tin tức nổi tiếng của Anh - BBC, Greg Dyke, đã công kích các đài truyền hình Hoa Kỳ và nói rằng họ không chỉ bộc lộ quan điểm thân Mỹ quá rõ ràng trong quá trình đưa tin về chiến tranh, mà nhiều người trong số họ còn công khai thể hiện sự yêu nước và làm sôi sục ý kiến của công chúng đối với chiến tranh Iraq55.