ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý về hệ tiêu hóa ngày càng gia tăng ở mức báo động và trở thành gánh nặng cho sức khỏe, kinh tế, xã hội. Tại Việt Nam, có tới 10% dân số mắc bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Loét dạ dày, tá tràng đã được biết đến từ lâu và khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Được định nghĩa là tình trạng niêm mạc bị tổn thương bề mặt vượt qua lớp cơ niêm do tác động của dịch vị dạ dày [1], [2].
Theo Hội khoa học tiêu hóa Việt Nam, tỷ lệ loét dạ dày tá tràng chiếm 26% trong các bệnh về tiêu hóa [3]. Mặc dù đã có những tiến bộ lớn trong chẩn đoán và điều trị, nó vẫn là một vấn đề sức khỏe lớn bởi số lượng bệnh nhân nhiều, tính chất của bệnh là mạn tính và dễ tái phát, chi phí điều trị cao và có thể gây một số biến chứng [4]. Trong y học hiện đại, việc điều trị loét dạ dày tá tràng thường phối hợp cả điều trị nội khoa và can thiệp ngoại khoa trên những bệnh nhân có biến chứng nguy hiểm như xuất huyết dạ dày, thủng hay ung thư dạ dày… Điều trị nội khoa lâu dài nhằm bảo tồn chức năng của dạ dày và phòng tránh những biến chứng có thể xảy ra [1]. Tuy nhiên việc sử dụng các thuốc tân dược lâu dài có thể gây ra những tác dụng không mong muốn trên bệnh nhân.
Vì vậy, việc bào chế và phát triển các thuốc và sản phẩm y học cổ truyền là hướng phát triển tốt, góp phần cải thiện điều trị loét dạ dày tá tràng hiệu quả và an toàn hơn. Loét dạ dày tá tràng trong y học cổ truyền thuộc phạm vi chứng “Vị quản thống” [5], [6], [7]. Hiện nay, nhiều dược liệu có tác dụng điều trị loét dạ dày tá tràng đã được chứng minh trên thực nghiệm, lâm sàng có hiệu quả điều trị cao như Chè dây, Dạ cẩm, lá Khôi, Nghệ,… [8], [9], [10], [11]. Sản phẩm viên Khôi tím Bavieco là viên nang cứng bao gồm các dược liệu được xác định có tác dụng trong điều trị bệnh liên quan đến dạ dày là Khôi tía, Hoàn ngọc, Bồ công anh, Nghệ, Cam thảo bắc.
Bài thuốc đã được sử dụng nhiều trong dân gian và cho kết quả cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng. Để góp phần đánh giá tính an toàn và tác dụng chống loét tá tràng 2 của viên Khôi tím Bavieco chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu độc tính cấp, bán trƣờng diễn và tác dụng chống loét tá tràng thực nghiệm của viên nang cứng viên Khôi tím Bavieco” với 2 mục tiêu: 1. Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của viên nang cứng viên Khôi tím Bavieco. Đánh giá tác dụng chống loét của viên nang cứng viên Khôi tím Bavieco trên mô hình gây loét tá tràng bằng Cysteamin.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về loét dạ dày tá tràng theo y học hiện đại 1. Giải phẫu và sinh lý dạ dày, tá tràng 1. Giải phẫu – sinh lý dạ dày Giải phẫu dạ dày: Là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, nằm sát dưới vòm hoành trái, ở sau cung sườn và vùng thượng vị trái [12], [13].
Tổ chức học dạ dày: Cấu trúc vi thể dạ dày gồm 4 lớp: Lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc [12], [13]. - Phần tuyến ở các vùng dạ dày không giống nhau; dạ dày có ba loại tuyến: tuyến tâm vị, tuyến thân vị và tuyến môn vị với sự phân bố các loại tế bào theo các vị trí tương ứng như sau: - Phần khe và cổ tuyến có tế bào tiết nhày và tế bào cổ tuyến; - Phần chế tiết gồm ba loại tuyến (tuyến tâm vị, tuyến thân vị và tuyến môn vị) có sự khác nhau về cấu trúc và chức năng. Các tế bào ngoại tiết theo vị trí giải phẫu dạ dày Vùng tuyến Các tế bào ngoại Các sản phẩm Vị trí (%) tiết của tuyến bài tiết Vùng nối thực quản Tâm vị (<5%) Cổ nhầy Mucin, PGII vưới dạ dày Cổ nhầy Mucin, PGI, PGII Acid (75%) Đáy và thân vị Chính PGI, PGII, leptin Thành HCl, yếu tố nội tại Môn vị (25%) Hang và môn vị Cổ nhày Mucin, PGII Các pha bài tiết dịch vị Quá trình bài tiết dịch vị dạ dày xảy ra nguyên phát theo 3 pha liên quan đến kích thích ở những vị trí phát ra tín hiệu như ở não, dạ dày và ruột. 4 Trong pha dạ dày, trước khi thức ăn đi vào, các trạng thái sinh lý, tâm lý như nhìn, ngửi, nếm, giận dữ, âu lo,.
kích thích bài tiết acid theo dây thần kinh phế vị. Lượng dịch vị ở pha này chiếm khoảng 1/5 lượng dịch vị bữa ăn. Pha dạ dày theo cơ chế thần kinh nội tiết với sự kích thích trực tiếp của thức ăn lên tế bào G giải phóng gastrin thông qua lần lượt hóa tế bào thành theo cơ chế gián tiếp hoặc trực tiếp. Pha cuối cùng là pha ruột khi thức ăn đi vào ruột non làm căng tá tràng cùng với các sản phẩm tiêu hóa protein (acid amin và các amin) thích niêm mạc tá tràng bài tiết thêm một lượng nhỏ gastrin.
Trong pha này cũng có những con đường khác dẫn đến ức chế sản xuất acid dạ dày. Các tế bào D trong các tế bào nội tiết giải phóng somatostatin ức chế sản xuất acid theo cơ chế trực tiếp đối với tế bào thành và gián tiếp bằng sự giảm giải phóng histamin từ tế bào ECL và gastrin từ tế bào D [14]. Giải phẫu - sinh lý tá tràng Tá tràng là đoạn ruột nổi môn vị và ruột non; chiều dài 25 – 30cm, có hình dạng chữ C được chia thành bốn phần: phần trên, phần xuống, phần ngang và phần lên. Phần thứ tư của tá tràng nối với hỗng tràng được cố định ở mặt sau bởi dây chằng Treizt.
Tá tràng không có mạc treo và được phúc mạc bọc ở mặt trước. Tá tràng là đoạn ống tiêu hóa quan trọng vì là nơi ống mật và ống tụy đổ vào tại đỉnh nhú tá tràng lớn. Niêm mạc tá tràng có nhiều nếp gấp tạo thành các van ngang. Dạ dày và tá tràng đều nằm ở vùng thượng vị nên khi dạ dày tá tràng bị loét thì có triệu chứng lâm sàng chính là đau vùng thượng vị.
Hệ thống tuần hoàn mao mạch của tá tràng dày đặc và nằm rất nông, ngay dưới lớp tế bào biểu mô, do đó khi viêm loét tá tràng dễ có biến chứng bị chảy máu. Tổ chức học tá tràng: Trong niêm mạc tá tràng có nhiều nang bạch huyết nhỏ. Bề mặt niêm mạc mang các nhung mao; trên đó có các nhú nhỏ hình ngón tay cao khoảng 0,5 - 1mm và được nối bởi các tuyến Lierbergkuhn. Ở đoạn I (phần trên) tá tràng có đặc điểm nổi bật là trong lớp dưới niêm mạc có các tuyến nhầy chia nhánh gọi là tuyến Brunner.
Nhờ có tuyến này mà niêm mạc tá tràng được bảo vệ, tránh được sự tác động của acid dạ dày. Nằm sâu trong lớp biểu mô gồm có các tế bào 5 hấp thu gọi là tế bào Paneth (tiết ra lysozym và các yếu tố bảo vệ khác), tế bào nội tiết và tế bào tiết nhầy. Tại tá tràng không có hiện diện của tế bào chế tiết acid mà chỉ có các tế bào bài tiết chất nhày, bicarbonat là những yếu tố bảo vệ chống loét. Nhưng tá tràng chịu ảnh hưởng của acid clohydric từ dịch vị đổ xuống, ảnh hưởng của dịch mật, dịch tụy trong đó có acid mật và muối mật các tế bào nội tiết của tá tràng cũng bài tiết ra entero- gastrin, chất này vào máu quay lại dạ dày kích thích các tế bào thành sản xuất ra HC1 [12], [15].
Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy bệnh loét tá tràng phụ thuộc rất nhiều vào độ pH của dịch vị ở dạ dày đổ xuống tá tràng. Nguyên nhân Loét dạ dày tá tràng là tình trạng “tổn thương niêm mạc, xuyên qua lớp cơ niêm xuống đến lớp cơ”, do nhiều nguyên nhân khác nhau và được chia thành 3 typ nguyên nhân: Typ A (Autoimmune): Do tự miễn Typ B (Bacteria): Do vi khuẩn. Nguyên nhân gây viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori chiếm đến 70-80% [3]. Cơ chế bệnh sinh Bệnh loét dạ dày tá tràng đã biết đến từ rất lâu, có nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm đã nêu ra các thuyết về cơ chế bệnh sinh nhưng cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn.
Không có một cơ chế duy nhất nào cho bệnh loét. Tổn thương hệ thần kinh trung ương do tai nạn, do phẫu thuật, do căng thẳng trong chiến tranh nói chung là do stress có thể dẫn đến loét DD-TT. Các chất sinh học gây loét trong bệnh nội tiết của tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp. Acid chlohydric cần thiết cho quá trình tiêu hóa nhưng cũng là tác nhân gây bệnh loét dạ dày tá tràng.
Ổ loét được hình thành là do sự phá hủy mô do dịch dạ dày có độ toan cao và hoạt tính phân giải protein khi dinh dưỡng bị rối loạn. Khả năng hình thành ổ loét tăng lên khi hàng rào bảo vệ niêm mạc bị suy giảm. 6 Vai trò của HP đặc biệt được nhấn mạnh và là yếu tố chính gây ra loét. Các độc tố cùng với các men của HP đã gây ra quá trình viêm, phù nề, hoại tử trong quá trình xâm nhập và đáp ứng của vật chủ.
Bên cạnh đó, với tác động của acid, của pepsin đã gây trợt rồi tạo thành ổ loét [14]. Ngày nay bệnh loét dạ dày tá tràng được cho rằng do mất cân bằng giữa hai nhóm yếu tố: yếu tố gây loét gọi là yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ [1], [4], [16]. + Yếu tố gây loét: acid HCl, pepsin, vi khuẩn Helicobacter pylori, thuốc chống viêm không steroid. + Yếu tố bảo vệ: chất nhầy mucin, hệ thống mạch máu niêm mạc dạ dày hành tá tràng, muối kiềm… [1].
Sự phá vỡ cân bằng giữa hai nhóm yếu tố xảy ra khi nhóm yếu tố gây loét tăng cường hoạt động mà nhóm yếu tố bảo vệ không được củng cố hoặc ngược lại hệ thống bảo vệ bị suy yếu nhưng yếu tố gây loét không không giảm một cách tương ứng. Loét tá tràng xuất hiện là do các yếu tố bảo vệ không thích ứng được với sự tấn công của acid-pepsin tăng quá mức; trong khi đó loét dạ dày là do các yếu tố bảo vệ niêm mạc bị suy yếu không đủ khả năng chống đỡ với sự tấn công của pepsin.