Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Triệu Phong (Lớp A2-CN9, Khoa Quản lý đào tạo tại chức kết hợp Khoa Kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương; người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hữu Khải; hoàn thành ngày 19/5/2003) nghiên cứu đề tài: "Nâng cao hiệu quả thi hành luật doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội".
Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh Quốc hội khóa X thông qua Luật Doanh nghiệp tại kỳ họp thứ 5 ngày 29/5/1999 (tỷ lệ 84,5% phiếu thuận), Chủ tịch Quốc hội ký ngày 12/6/1999 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2000. Đạo luật này thay thế cơ chế quản lý cũ của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Tác giả chỉ ra sự khác biệt về trọng tâm thể chế giữa Việt Nam và một số quốc gia chuyển đổi:
- Luật Doanh nghiệp của Nga tập trung đẩy nhanh cổ phần hóa và tư nhân hóa khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
- Luật Doanh nghiệp của Trung Quốc hướng trọng tâm vào công ty hóa DNNN và tạo động lực lập doanh nghiệp mới.
- Luật Doanh nghiệp của Việt Nam tập trung cải cách khâu đăng ký kinh doanh (ĐKKD) nhằm tạo thuận lợi cho việc gia nhập thị trường của khu vực dân doanh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của văn bản:
- Hệ thống hóa các quan điểm cải cách hành chính nhà nước và các chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo Luật Doanh nghiệp 1999.
- Phân tích thực trạng chuyển dịch từ phương thức quản lý "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", đánh giá tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) sau hai năm thi hành luật (2000–2001) trên phạm vi cả nước.
- Đánh giá các điều kiện thuận lợi và bất lợi mang tính đặc thù của Thủ đô Hà Nội trong việc tổ chức thực thi Luật Doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế dân doanh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả thi hành Luật Doanh nghiệp 1999 tại khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (các doanh nghiệp dân doanh).
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và là địa phương có số lượng doanh nghiệp tập trung đứng thứ hai cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn chuyển tiếp kinh tế từ cuối thập niên 1990 đến mốc 2 năm triển khai luật (2000–2002), cập nhật các số liệu đến năm 2003.
Khung thể chế pháp lý và phương pháp tiếp cận
Đề tài thuộc nhóm nghiên cứu phân tích thể chế quản lý nhà nước và kinh tế thực chứng. Tác giả vận dụng các văn bản pháp luật, nghị quyết định hướng và dữ liệu thực tế:
- Cơ sở thể chế và pháp lý: Điều 57 Hiến pháp năm 1992 (quyền tự do kinh doanh theo pháp luật); Luật Doanh nghiệp năm 1999 (10 chương, 124 điều); Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (13/11/2001); Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 07/9/2001 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001–2010; Quyết định số 1253/QĐ-TTg ngày 29/12/1999 thành lập Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp; Nghị định số 02/2000/NĐ-CP; Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính; Thông tư số 08/2002/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Nghị định số 61/1998/NĐ-CP về thanh tra doanh nghiệp.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích - tổng hợp thể chế, phương pháp so sánh đối chiếu pháp luật (so sánh quy định thành lập công ty giữa Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp 1999), kết hợp phương pháp thống kê mô tả phân tích số liệu thứ cấp.
- Nguồn dữ liệu: Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, điều tra 1.000 doanh nghiệp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tài liệu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, dữ liệu báo cáo của các Phòng ĐKKD tại các tỉnh/thành phố, số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), cùng số liệu thực tế tại thành phố Hà Nội và Sở Công an Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tiếp cận Luật Doanh nghiệp dưới góc độ quản lý Nhà nước
Chương này tập trung làm rõ bản chất của Luật Doanh nghiệp 1999 dưới giác độ cải cách nền hành chính công và quản lý kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, về cải cách thể chế hành chính: Khóa luận dẫn chiếu Nghị quyết Trung ương 8 xác định cải cách thủ tục hành chính là khâu trọng tâm giải quyết 5 vấn đề bức xúc và 7 lĩnh vực trọng điểm (trong đó có thành lập doanh nghiệp và ĐKKD). Quyết định 136/2001/QĐ-TTg đặt ra các mục tiêu đến năm 2005 về phân cấp quản lý, cơ cấu công chức và chế độ tiền lương. Luật Doanh nghiệp 1999 thống nhất điều chỉnh 5 loại hình: công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty TNHH 1 thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (bổ sung công ty TNHH 1 thành viên và công ty hợp danh so với trước).
Thứ hai, đổi mới công tác đăng ký kinh doanh và chuyển dịch sang "hậu kiểm": Luật bãi bỏ Giấy phép thành lập doanh nghiệp (trước đây phải qua ít nhất 7 cơ quan phê duyệt, xin gần 20 loại giấy tờ có con dấu).
| Tiêu chí hồ sơ thành lập |
Quy định theo Luật Công ty 1990 |
Quy định theo Luật Doanh nghiệp 1999 |
| Đơn xin / Giấy đề nghị |
Có đơn xin phép thành lập |
Giấy đề nghị ĐKKD theo mẫu |
| Phương án kinh doanh |
Bắt buộc nộp phương án ban đầu |
Đã bãi bỏ hoàn toàn |
| Điều lệ & Danh sách |
Dự thảo điều lệ, danh sách thành viên/cổ đông |
Dự thảo điều lệ, danh sách thành viên/cổ đông |
| Chứng nhận nhân thân |
Xác nhận không tâm thần, không tiền án |
Đã bãi bỏ hoàn toàn |
| Chứng nhận trụ sở |
Bắt buộc xác nhận trụ sở hợp pháp |
Đã bãi bỏ hoàn toàn |
| Chứng nhận vốn |
Xác nhận ngân hàng/công chứng về vốn |
Bãi bỏ yêu cầu chứng minh vốn ban đầu |
Khóa luận phân tích việc bãi bỏ 4 loại giấy tờ (phương án kinh doanh, nhân thân, trụ sở, xác nhận vốn) là cơ sở thực thi nguyên tắc "tiền đăng, hậu kiểm". Khoản 2 Điều 12 quy định cơ quan ĐKKD không được yêu cầu nộp thêm giấy tờ ngoài quy định. Thời hạn cấp ĐKKD rút xuống tối đa 15 ngày. Tuy nhiên, tác giả phát hiện mâu thuẫn giữa Điều 12 với Thông tư số 08/2002/TT-BKH (cho phép cơ quan ĐKKD yêu cầu xuất trình giấy tờ khi cần thiết), sự thiếu vắng tiêu chí xác định tên trùng/gây nhầm lẫn (Điều 24), tình trạng mở rộng ngành nghề cấm (Điều 6) và sự lúng túng trong xác nhận vốn pháp định.
Thứ ba, cơ chế hậu kiểm và chế độ báo cáo: Hậu kiểm được cấu thành từ 5 chủ thể: nội bộ doanh nghiệp, đối tác kinh doanh, khách hàng, người tiêu dùng và cơ quan nhà nước. Tác giả chỉ ra bất cập lớn: Khoản 2 Điều 118 Luật Doanh nghiệp chỉ yêu cầu 2 biểu mẫu (bảng cân đối kế toán và bản quyết toán tài chính), nhưng Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính lại bắt buộc 4 biểu mẫu (bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính). Luật không có chế tài xử phạt vi phạm chế độ báo cáo ngoại trừ quy định thu hồi ĐKKD sau 2 năm liên tiếp không báo cáo (Điểm c Khoản 3 Điều 121). Về thanh tra tài chính, Luật khống chế không quá 1 lần/năm với thời hạn tối đa 30 ngày (gia hạn không quá 30 ngày), nhưng bỏ ngỏ quy chuẩn thanh tra các lĩnh vực môi trường, y tế, lao động, trật tự xã hội.
Thứ tư, đánh giá kết quả 2 năm thi hành (2000–2001):
- Chính sách và thủ tục: Ban hành 45 văn bản hướng dẫn (14 nghị định, 5 quyết định/chỉ thị của Thủ tướng, 26 thông tư); khai trương Trung tâm thông tin doanh nghiệp (NBIN) ngày 11/01/2002. Theo khảo sát 1.000 doanh nghiệp của VCCI: thời gian thành lập giảm từ trung bình 66 ngày (cá biệt 910 ngày cấp phép, 200 ngày ĐKKD) xuống còn 7 ngày (nhiều nơi 2 ngày); chi phí từ mức 3–240 triệu đồng (cộng 1–10 triệu đồng chi phí không chính thức) giảm xuống còn 550.000 đồng lệ phí, tiết kiệm khoảng 80 tỷ đồng/năm. Thủ tướng bãi bỏ đợt đầu 84 giấy phép con (tiết kiệm 4,5 triệu đồng và 21 ngày/người điều hành), nâng tổng số giấy phép bị bãi bỏ lên 145 giấy phép. Bộ Tài chính hủy bỏ trên 700 văn bản, Bộ Thương mại hủy bỏ trên 300 văn bản.
- Phát triển doanh nghiệp và kinh tế: Giai đoạn 1991–1999 cả nước có khoảng 30.000 doanh nghiệp; trong 2 năm 2000–2001 có 32.447 doanh nghiệp đăng ký mới với 40.579 tỷ đồng vốn (năm 2000: 14.441 doanh nghiệp với 13.780 tỷ đồng; năm 2001: trên 18.000 doanh nghiệp với 22.000 tỷ đồng). Hơn 70% doanh nghiệp tập trung tại Hà Nội và TP.HCM. Cơ cấu ngành: thương mại, sửa chữa xe và đồ dùng chiếm 32%; dịch vụ khác 22%; công nghiệp chế biến 15%; xây dựng 12%; nông-lâm-thủy sản 7%; sản xuất, phân phối điện, khí, nước 3%; khách sạn, nhà hàng 3% (giảm mạnh từ 13%). Doanh nghiệp quy mô lớn xuất hiện (KyVy 76 tỷ đồng; Bao bì nhựa Sài Gòn 50,5 tỷ đồng; Dệt Thiên Nam 56 tỷ đồng; Sữa Sài Gòn 153 tỷ đồng; Nhựa Huệ Linh 150 tỷ đồng).
- Xã hội và việc làm: Tạo ra khoảng 600.000 việc làm mới (bình quân 20 lao động/doanh nghiệp). Khu vực công nghiệp dân doanh chiếm 21,7% giá trị sản xuất, thu hút 61% lao động với 11,4% vốn toàn ngành công nghiệp. Tỷ lệ giám đốc nữ đạt 21%; giám đốc dưới 29 tuổi chiếm 4,7% và dưới 49 tuổi chiếm 62,1%. Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2000 tăng 18,3%, năm 2001 tăng 19,5% (vượt mức 14,5% của DNNN và 14,2% của khu vực FDI). Số doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp tăng lên 16.200 doanh nghiệp.
- Mặt tiêu cực và lỗ hổng: Xuất hiện "doanh nghiệp ma" lợi dụng kẽ hở hóa đơn GTGT để lừa đảo rồi biến mất; tình trạng chậm nộp báo cáo tài chính trầm trọng (TP.HCM chỉ 10% nộp; Bà Rịa - Vũng Tàu 13%; Hà Nội và Hải Dương 30%; Đà Nẵng và Hải Phòng gần 2%); điều lệ doanh nghiệp sơ sài gây xâm phạm quyền cổ đông thiểu số; hiện tượng phục hồi giấy phép con trá hình (tồn tại trên 400 quy định cấp phép trái luật chưa được bãi bỏ).
Chương II: Thực tiễn công tác tổ chức triển khai Luật Doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Chương này đánh giá các đặc trưng phát triển kinh tế và thể chế tại Thủ đô Hà Nội.
Về các điều kiện thuận lợi:
- Vị thế đầu não với cơ chế phân cấp quản lý đầu tư đặc thù; đầu mối hạ tầng liên thông (sân bay quốc tế Nội Bài, kết nối cảng Hải Phòng, Quảng Ninh); nguồn điện nước ổn định (thủy điện Hòa Bình).
- Trung tâm nhân lực và KH-CN lớn nhất nước: 49 trường đại học, cao đẳng (chiếm 60% cả nước); 34 trường trung học chuyên nghiệp; 41 trường dạy nghề; 112 viện nghiên cứu. Tỷ lệ lao động có bằng cấp đạt 34% (so với 10–12% bình quân cả nước). Tập trung trên 20% cử nhân đại học (12 vạn người), trên 70% thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư của cả nước (khoảng 6.000 người).
- Tiềm lực công nghiệp và cơ cấu kinh tế: Dịch vụ và công nghiệp chiếm 97% GDP (nông nghiệp trên 2%). Thành phố có hơn 800 DNNN (280 DNNN công nghiệp), khoảng 2.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 300 doanh nghiệp hỗn hợp và 17.000 hộ cá thể; thu hút vốn FDI đứng thứ 2 cả nước. Ngành dệt may là 1 trong 5 sản phẩm công nghiệp chủ lực (Việt Nam đứng thứ 70/227 đối tác thương mại của Mỹ, dệt may chiếm 6%).
Về các yếu tố bất lợi và rào cản:
- Thị trường vốn và thể chế tài chính tắc nghẽn: Khoảng 50% nguồn vốn huy động bị ứ đọng tại các ngân hàng do vướng mắc thế chấp; tỷ giá VND bị định giá quá cao làm suy giảm sức cạnh tranh hàng xuất khẩu; tồn tại độc quyền tại các Tổng công ty nhà nước (điện, than, xăng dầu, hàng không, viễn thông).
- Năng lực cạnh tranh sản phẩm yếu: Giá thành sản phẩm công nghiệp trong nước cao hơn 20–40% (thậm chí 80%) so với hàng nhập khẩu cùng loại; chỉ 15% sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Thị trường nội địa nhỏ hẹp (GDP theo PPP đứng thứ 131/174 nước); tích lũy nội bộ mới đạt 25% GDP (so với 40% của Trung Quốc).
- Trình độ công nghệ và nghịch lý nhân lực: Thiết bị hiện đại và tương đối hiện đại chỉ chiếm 36–38% tài sản cố định; dưới 5% DNNN tại Hà Nội đạt chứng nhận ISO. Dù sở hữu đội ngũ trí thức đông đảo, chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI) của Việt Nam xếp thứ 108/174; tỷ lệ lao động đang làm việc thực tế qua đào tạo tại Hà Nội chỉ đạt khoảng 46%. Cơ cấu học vấn và tay nghề còn mất cân đối nghiêm trọng: 22,68% lao động chỉ tốt nghiệp THCS, 1,6% tiểu học; công nhân tay nghề bậc 1 chiếm 22,46%, bậc 2 chiếm 17,36%, 9,2% chưa qua đào tạo; về trình độ chuyên môn có 28,85% sơ cấp và 16,3% chưa qua đào tạo chuyên môn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và lý luận quản lý nhà nước giai đoạn bản lề:
- Tổng hợp số liệu thực thi toàn diện: Khóa luận hệ thống hóa các chỉ số định lượng về kết quả triển khai Luật Doanh nghiệp sau 2 năm (32.447 doanh nghiệp đăng ký mới, 40.579 tỷ đồng vốn đầu tư khu vực dân doanh, 600.000 việc làm mới, giảm thời gian ĐKKD xuống còn 7 ngày, bãi bỏ 145 giấy phép con).
- Chỉ ra các xung đột pháp luật cụ thể: Nhận diện mâu thuẫn giữa văn bản luật và dưới luật (Điều 12 Luật Doanh nghiệp đối kháng với Thông tư 08/2002/TT-BKH; Điều 118 Luật Doanh nghiệp mâu thuẫn với Quyết định 167/2000/QĐ-BTC về số lượng biểu mẫu báo cáo tài chính).
- Đặc tả cấu trúc kinh tế - lao động của Hà Nội: Phác họa bức tranh toàn cảnh về địa bàn Hà Nội với tỷ trọng dịch vụ - công nghiệp chiếm 97% GDP, đồng thời chỉ ra nghịch lý giữa số lượng trí thức tập trung cao với thực trạng thiếu hụt kỹ sư thực hành và công nhân tay nghề cao (tỷ lệ lao động trực tiếp qua đào tạo chỉ đạt 46%).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của tài liệu: Nghiên cứu thực hiện vào tháng 5/2003, dữ liệu phản ánh thời kỳ đầu áp dụng Luật Doanh nghiệp 1999 (khoảng 2–3 năm thực thi). Các số liệu thất thu thuế từ hiện tượng "doanh nghiệp ma" và mua bán hóa đơn GTGT chưa thể lượng hóa cụ thể do hạn chế trong công tác thống kê liên ngành thời kỳ đó.
- Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở: Hoàn thiện quy chế phối hợp giám sát hậu kiểm giữa cơ quan ĐKKD, cơ quan Thuế và cơ quan Công an; nghiên cứu xây dựng tiêu chí minh bạch về bảo hộ tên doanh nghiệp và phân loại điều kiện kinh doanh; giải quyết bài toán cơ chế tín dụng để giải phóng 50% lượng vốn ứ đọng trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tư liệu lịch sử - pháp lý và kinh tế quản lý rõ rệt:
- Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương, Quản lý kinh tế, Luật Kinh tế và cán bộ thực thi chính sách hành chính công.
- Nội dung tham khảo trọng tâm: Bảng đối chiếu thủ tục thành lập công ty giữa Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp 1999; mô hình phân tích chức năng quản lý nhà nước chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; hệ thống số liệu khảo sát của VCCI và số liệu thống kê cơ cấu công nghiệp, nguồn nhân lực Thủ đô giai đoạn 2000–2003.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Doanh nghiệp 1999 đã bãi bỏ những giấy tờ bắt buộc nào trong hồ sơ thành lập công ty so với Luật Công ty 1990?
Luật Doanh nghiệp 1999 bãi bỏ hoàn toàn 4 loại giấy tờ: (1) Phương án kinh doanh ban đầu; (2) Giấy chứng nhận nhân thân của người đầu tư (chứng nhận không tâm thần, không tiền án); (3) Giấy chứng nhận quyền sử dụng trụ sở công ty; (4) Giấy chứng nhận vốn đầu tư (vốn bằng tiền mặt từ ngân hàng hoặc tài sản từ công chứng).
2. Khảo sát của VCCI trên 1.000 doanh nghiệp cho thấy thủ tục ĐKKD thay đổi như thế nào sau khi có Luật Doanh nghiệp 1999?
Thời gian hoàn tất thủ tục giảm từ mức trung bình 66 ngày (tối đa từng lên tới 910 ngày cấp phép và 200 ngày ĐKKD) xuống còn trung bình 7 ngày (nhiều nơi đạt 2 ngày). Chi phí thủ tục chính thức giảm từ mức trung bình 3 triệu đồng (tối đa 240 triệu đồng) xuống còn 550.000 đồng lệ phí, triệt tiêu các khoản chi phí không chính thức từ 1 đến 10 triệu đồng, tiết kiệm khoảng 80 tỷ đồng/năm cho các doanh nghiệp mới thành lập.
3. Xung đột giữa Luật Doanh nghiệp 1999 và Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính là gì?
Khoản 2 Điều 118 Luật Doanh nghiệp quy định báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp chỉ bao gồm 2 văn bản: bản cân đối kế toán và bản quyết toán tài chính. Trong khi đó, Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC lại bắt buộc doanh nghiệp nộp 4 biểu mẫu (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), dẫn đến việc cơ quan ĐKKD lúng túng khi doanh nghiệp đề nghị chỉ nộp 2 bản theo luật.
4. Khóa luận nêu số liệu nào chứng minh thực trạng nghịch lý nhân lực tại thành phố Hà Nội?
Hà Nội tập trung 49 trường đại học, cao đẳng (chiếm 60% cả nước), trên 20% cử nhân (12 vạn người) và trên 70% tiến sĩ, giáo sư cả nước (khoảng 6.000 người), với tỷ lệ lao động có bằng cấp chung đạt 34%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đang làm việc thực tế qua đào tạo chỉ đạt 46%. Lao động có học vấn THCS chiếm 22,68%, tiểu học 1,6%; công nhân tay nghề bậc 1 chiếm 22,46%, bậc 2 chiếm 17,36%, và có tới 9,2% chưa qua đào tạo nghề.
5. Hiện tượng "doanh nghiệp ma" được văn bản phân tích dưới những nguyên nhân và hình thức nào?
"Doanh nghiệp ma" là các doanh nghiệp đăng ký nhưng không hoạt động tại trụ sở đăng ký, bao gồm: đã đăng ký nhưng chưa khai trương, thay đổi trụ sở hoặc đã giải thể nhưng không khai báo, hoặc đăng ký nhưng không hoạt động. Hiện tượng này phát sinh do kẽ hở chuyển giao từ tiền kiểm sang hậu kiểm nhưng thiếu chế tài kịp thời (chỉ thu hồi ĐKKD sau 2 năm liên tiếp không nộp báo cáo), tạo cơ hội cho một số đối tượng lợi dụng mua bán khống hóa đơn GTGT rồi bỏ trốn, gây thất thu ngân sách.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Triệu Phong là công trình nghiên cứu quản lý kinh tế phản ánh chân thực giai đoạn đầu thực thi Luật Doanh nghiệp 1999 tại Việt Nam và địa bàn Hà Nội. Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận của việc chuyển dịch mô hình quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đánh giá khách quan các thành tựu cắt giảm thủ tục hành chính song hành cùng những lỗ hổng quản lý hậu kiểm. Công trình mang lại giá trị tư liệu thực chứng quan trọng về sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và những đặc thù thể chế - nhân lực của Thủ đô đầu thập niên 2000.