CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM- CHI NHÁNH HUYỆN CAN LỘC- TỈNH HÀ TĨNH.1 Tổng quan về hoạt động rủi ro tín dụng của NHTM 1.1 Khái niệm về Tín dụng ngân hàng. Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. (Hồ Diệu, 2011, tr. 20) Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay (con nợ) và vừa là người cho vay (chủ nợ).
Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Vì vậy, tín dụng là một khái niệm rộng hơn cho vay bởi nó bao hàm cả cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì nghiệp vụ cho vay lại là nghiệp vụ quan trọng nhất, cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn ở hầu hết các NHTM. Do đó, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng thay thế cho nhau.2 Khái niệm về Rủi ro tín dụng. Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về RRTD ngân hàng, cụ thể như: Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “ RRTD là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.
Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: “ RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Nguyễn Thị Minh Hạnh SVTH: Phan Mỹ Như Luan van Khóa luận tốt nghiệp 4 Khoa tài chính – Ngân hàng Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.3 Phân loại rủi ro tín dụng. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro.
Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng.
Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. RRTD không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1.4 Một số chỉ tiêu phản ánh RRTD Nợ quá hạn NQH theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN: “NQH là khoản nợ mà một phần hoặc toàn toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn”.
NQH là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD, nó còn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, thể hiện sự yếu kém về tài chính của khách hàng, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng 10 với người nhận tín dụng. NQH có nhiều mức độ khác nhau: Tỷ lệ NQH số dư nợ quá hạn - Tỷ lệ NQH = ×100% Tổng dư nợ GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh SVTH: Phan Mỹ Như Luan van Khóa luận tốt nghiệp 5 Khoa tài chính – Ngân hàng Nếu tỷ lệ NQH cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ NQH thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao. Tỷ lệ tổng dư nợ có NQH Tổng dư nợ có NQH - Tỷ lệ tổng dư nợ có NQH = ×100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu “Tổng dư nợ có NQH” chính là toàn bộ dư nợ của một khách hàng (kể cả đến hạn và chưa đến hạn) tính từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên, nên nó phản ánh chính xác hơn mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu “Khách hàng có NQH” Tổng số khách hàng quá hạn - Tỷ lệ khách hàng có NQH = × 100% Tổng số khách hàng có dư nợ Nếu tỷ lệ này cao thì chứng tỏ chính sách tín dụng của ngân hàng không hiệu quả. Ngoài ra, nếu chỉ tiêu này còn thấp hơn chỉ tiêu “nợ quá hạn” thì có thể NQH tập trung vào những khách hàng lớn; ngược lại thì nghĩa là tập trung vào khách hàng nhỏ. Chỉ tiêu “Cơ cấu NQH”: Nợ quá hạn ngắn hạn - Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn = × 100% Nợ quá hạn Nợ quá dài hạn - Tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn = × 100% Nợ dài hạn Khả năng thu hồi NQH : NQH có khă năng thu hồi - NQH có khả năng thu hồi = × 100% Nợ quá hạn NQH không có khả năngthu hồi - NQH không có khả năng thu hồi = × 100% Nợ quá hạn Nợ xấu Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ được phân thành 5 nhóm theo hai phương pháp như sau: GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh SVTH: Phan Mỹ Như Luan van Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa tài chính – Ngân hàng Bảng 1.1 Phân loại nhóm nợ TT Nhóm Định lượng Định tính Nợ đủ tiêu - Nợ chưa đến hạn trả.
Nợ có khả năng thu hồi 1 chuẩn - Các khoản nợ đến hạn thanh toán chưa trả được và đầy đủ gốc và lãi đúng được ân hạn 10 ngày. Nợ cần - Các khoản nợ quá hạn từ 10 - 90 ngày Nợ có khả năng thu hồi chú ý - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu đầy đủ gốc và lãi nhưng 2 có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Nợ dưới Các khoản nợ quá hạn từ 91 - 180 ngày Nợ không có khả năng tiêu chuẩn Các khoản nợ được gia hạn. thu hồi gốc và lãi khi 3 Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng đến hạn.
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng Nợ nghi - Các khoản nợ quá hạn từ 181- 360 ngày. Nợ có khả năng tổn thất ngờ - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá cao. 4 hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lãi lần đầu. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Nợ có khả - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày Nợ không còn khả năng năng mất - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá thu hồi, mất vốn.
vốn hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai bị 5 quá hạn theo thời hạn trả nợđược cơ cấu lại lần thứ hai. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.2 Quản trị RRTD trong cho vay của NHTM 1.1 Định nghĩa QTRRTD.Phạm Tuấn Anh - Đại học Thương Mại, với quan điểm quản trị rủi ro tổ chức (OMR) thì quản trị rủi ro được hiểu như sau: “Quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm soạn thảo chiến lược, tổ chức thực hiện kế hoạch, phân nhiệm lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động nhận dạng, đánh giá rủi ro, tổn thất và tìm ra các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực của tổ chức.” Theo TS Mai Xuân Thịnh – Đại học Đà Nẵng thì “ Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình quản trị có hệ thống với bốn hoạt động cơ bản: nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, đánh giá rủi ro và tài trợ rủi ro” GVHD: TS.
Nguyễn Thị Minh Hạnh SVTH: Phan Mỹ Như Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa tài chính – Ngân hàng Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang tác giả của giáo trình “Quản trị rủi ro tài chính” - Đại học Kinh tế TPHCM thì “ Quản trị rủi ro tín dụng là xác định mức độ rủi ro về tín dụng mà Ngân hàng mong muốn, nhận diện mức độ rủi ro hiện nay Ngân hàng đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo mức rủi ro mong muốn”. Từ các quan điểm trên thì khóa luận thống nhất khái niệm QTRRTD của NHTM như sau: “QTRRTD là một quá trình bao gồm soạn thảo chiến lược, tổ chức thực hiện kế hoạch, phân nhiệm lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động nhận dạng, đánh giá RRTD, dự báo tổn thất do nợ quá hạn, nợ xấu và tìm các biện pháp kiểm soát, tài trợ khắc phục các hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.2 Quy trình QTRRTD.