CHƯƠNG I THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng 1. Điều kiện tự nhiên Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 2 GVHD: PGS. Ngô Thị Thanh Vân Hình 1.1: Bản đồ thành phố Hải Phòng Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 152.069,8 (Theo Quyết định số 272/QĐ-TTg ngày 27/02/2007 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt kết quả kiểm kê đất đai) chiếm 0,46% diện tích tự nhiên cả nước.
Về ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp biển Đông. Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không. Địa hình, đất đai, thổ nhưỡng: Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp. Phần Bắc Hải Phòng có dáng dấp của một vùng trung du với những đồng bằng xen giữa đồi kẹp, phần phía nam Thành phố có địa hình thấp và khá bằng phẳng.
Tuy đồi núi chỉ chiếm 15% diện tích tự nhiên của Thành phố, nhưng lại phân bố ở hơn nửa phần bắc Thành phố, tạo thành từng dải liên tục theo hướng tây bắc - đông nam, có quá trình phát sinh gắn liền với hệ núi Quảng Ninh thuộc khu Đông bắc Bắc bộ. Đồi núi của Hải Phòng hiện nay là các dải đồi núi còn sót lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ. Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển. Có hai dải núi chính: dải đồi núi từ An Lão đến Đồ Sơn nối tiếp không liên tục, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 3 GVHD: PGS.
Ngô Thị Thanh Vân phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu; dải Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Núi đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng, Núi Đèo, nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi, đặc biệt là đá vôi Tràng Kênh là nguồn nguyên liệu quý của công nghiệp xi măng Hải Phòng. Xen kẽ các đồi núi là những đồng bằng nhỏ phân tán với trầm tích cổ từ các đồi núi trôi xuống và cả trầm tích phù sa hiện đại. Khí hậu: Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, sát biển Đông nên Hải Phòng chịu ảnh hưởng của gió mùa. Mùa gió Đông bắc lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Gió Đông nam mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1. Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình tháng từ 20 - 230C, cao nhất có khi tới 400C, thấp nhất ít khi dưới 50C.
Độ ẩm trung bình trong năm là 80% - 85%, cao nhất là 100% và thường xảy ra vào các tháng 7, 8, 9, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1. Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1. Sông ngòi: Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km trên 1 km2. Sông ngòi ở đây đều là các chi lưu của sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ.
Nếu ngược dòng ta sẽ thấy như sau: sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Văn Ôn ở độ cao trên 1.170 m thuộc Bắc Cạn, về đến Phả Lại thì hợp lưu với sông Thương và sông Lục Nam, là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng bằng trước khi đổ ra biển với độ dài 97 km và chuyển hướng Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 4 GVHD: PGS. Ngô Thị Thanh Vân chảy theo tây bắc - đông nam. Từ nơi hợp lưu đó, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ, và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Kinh Thầy, Văn Úc, Lạch Tray,. đổ ra biển bằng các cửa sông chính.
Hải Phòng có 16 sông chính, trong đó có một số con sông lớn, toả rộng khắp địa bàn Thành phố với tổng độ dài trên 300 km, bao gồm: Sông Thái Bình dài 35 km là dòng chính chảy vào địa phận Hải Phòng từ Quí Cao và đổ ra biển qua cửa sông Thái Bình làm thành ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng. Sông Lạch Tray dài 45 km là nhánh của sông Kinh Thầy từ Kênh Đồng ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Hải và cả nội thành. Sông Cấm là nhánh của sông Kinh Môn dài trên 30 km chảy qua nội thành và đổ ra biển ở cửa Cấm. Cảng Hải Phòng được xây dựng trên khu vực cửa sông này từ cuối thế kỷ 19.
Sông Cấm cũng là ranh giới hành chính giữa huyện Thuỷ Nguyên và An Hải. Sông Đá Bạch - Bạch Đằng dài hơn 32 km cũng là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam Triệu và là ranh giới phía Bắc và Đông Bắc của Hải Phòng với Quảng Ninh. Đoạn sông Văn Úc chảy qua Hải Phòng từ ngã ba Gùa ra đến biển dài 45 km rộng trung bình 500-800m, đáy sông sâu từ -10 đến -16m. Sông Văn Úc sâu và rộng nhất trong số các sông ở hạ du sông Thái Bình.
Sông Hoá là một nhánh của sông Luộc tại ngã ba Chanh Chử, đổ ra biển vào cửa sông Thái Bình. Sông có chiều dài 37km, chiều rộng lòng sông trung Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 5 GVHD: PGS. Ngô Thị Thanh Vân bình từ 150-250 m, cao độ đáy từ -5m đến -7m. Sông Hoá là ranh giới giữa huyện Vĩnh Bảo và tỉnh Thái Bình.
Nằm ở hạ lưu của sông Thái Bình với 104 km đê biển, 313,8km đê sông, Hải Phòng có cảng biển lớn có hệ thống sông ngòi với mật độ lớn. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước ngọt và phù sa cho đồng ruộng, tiêu úng trong mùa mưa lũ. Hàng năm, phù sa bồi lắng phía cửa sông lấn ra biển làm tăng thêm diện tích đất cho thành phố. Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi chia cắt địa hình, đất đai Hải Phòng thành các vùng nhỏ hẹp, cộng thêm chế độ nhật triều biên độ lớn, tầng đất canh tác mỏng, tăng khả năng sinh phèn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Do nằm sát với biển đông, vùng hoạt động mạnh của các cơn bão nhiệt đới, nên Thành phố chịu nhiều bão vào mùa mưa. Về mùa khô, khu vực thiếu nước ngọt gây xâm nhập mặn. Địa hình một số huyện Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, có những vùng trũng, thấp gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước. Do ảnh hưởng của chế độ nhật triều nên thời gian lấy nước, tiêu nước ngắn dẫn đến quy mô các công trình đầu mối lớn hơn so với các khu vực khác trong vùng.
Điều kiện kinh tế, xã hội Hải Phòng có diện tích đất tự nhiên là 152.569,8 ha trong đó đất nông nghiệp là 53.398,05 ha chiếm 35,11% diện tích đất tự nhiên toàn thành phố. Theo số liệu thống kê năm 2005 diện tích lúa cả năm là 88300 ha, năng suất vụ Đông xuân là 61,6 tạ/ha, vụ Mùa là 45,2 tạ/ha. Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 6 GVHD: PGS. Ngô Thị Thanh Vân Lương thực bình quân nhân khẩu toàn thành phố đạt khoảng 260,4kg/người/năm, sản lượng lương thực năm 2005 là 466,9 nghìn tấn.
Cơ cấu cây trồng gắn với hiệu quả kinh tế theo hướng đa canh, đa dạng sản phẩm, chuyển từ độc canh cây lúa có năng suất thấp sang đa canh cây trồng, phong phú sản phẩm chất lượng cao. Về thuỷ sản, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm đạt trên 20. Sản lượng khai thác đạt khoảng 26. Như vậy sản xuất nông nghiệp thành phố Hải Phòng trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng nhanh, toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, đảm bảo đủ lương thực ổn định cho trên 1 triệu dân khu vực nông thôn và cung cấp cho thị trường thành phố đảm bảo được nhu cầu thực phẩm cung cấp (chủ yếu là rau và thịt) và tham gia xuất khẩu.
Theo số liệu thống kê năm 2005, toàn thành phố có trên 1,793 triệu người trong đó khu vực nông thôn có 0,972 triệu chiếm 54,21% tổng số dân toàn thành phố. Dân số nông nghiệp chiếm trên 80% dân số nông thôn. Mật độ dân số trung bình là 1.175 người/km2. Thực trạng hệ thống công trình thủy lợi thành phố Hải Phòng Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng quan trọng, đáp ứng yêu cầu tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy các ngành kinh tế khác.
Khi các công trình đưa vào vận hành khai thác, nguồn kinh phí tu bổ, sửa chữa hàng năm đều trông vào nguồn thủy lợi phí. Mức thu thủy lợi phí mang nặng tính bao cấp để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nên nguồn thu này không đủ để trang trải chi phí vận hành, tu bổ công trình. Học viên : Phạm Thị Bích Ngoan Lớp CH17KT Luận văn thạc sĩ kinh tế 1 7 GVHD: PGS. Ngô Thị Thanh Vân Theo báo cáo của các đơn vị quản lý khai thác thủy nông, những năm trước đây, mỗi năm kinh phí đầu tư cho sửa chữa, tu bổ công trình chỉ đạt 30- 35% yêu cầu thực tế.
Nhiều trục kênh tưới tiêu lớn không có kinh phí nạo vét đã bồi lắng nghiêm trọng, giảm đáng kể khả năng dẫn nước. Với nhiều công trình mới xây dựng còn thiếu công trình điều tiết và hệ thống kênh mương cấp dưới và công tác quản lý vận hành chưa tốt nên đã hạn chế năng lực tưới và thoát nước. Những yếu kém trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi cũng là một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả và năng lực của những hệ thống công trình thủy lợi hiện có.