Luận văn thạc sĩ Bùi Quang Hùng - Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm Sinh lý Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Luận văn thạc sĩ trình bày quy trình và phương pháp luận xây dựng bộ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm chất lượng cao phục vụ kiểm tra đánh giá môn Sinh lý tại Đại

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

277
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý là quá trình hệ thống hóa các câu hỏi đạt chuẩn chất lượng phục vụ đánh giá năng lực sinh viên y khoa. Tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, đề tài luận văn thạc sĩ của Bùi Quang Hùng (2019) đã tiến hành nghiên cứu toàn diện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn. Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm giúp chuẩn hóa công tác kiểm tra, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong đánh giá kết quả học tập. Môn sinh lý học đóng vai trò nền tảng trong chương trình đào tạo y khoa, đòi hỏi sinh viên nắm vững kiến thức về cơ chế hoạt động của các hệ cơ quan. Việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn giúp đo lường chính xác mức độ hiểu biết của người học. Ngân hàng câu hỏi được xây dựng cần tuân thủ các nguyên tắc đo lường giáo dục, đảm bảo độ khó và độ phân biệt phù hợp. Quá trình xây dựng bao gồm soạn thảo, thẩm định, thử nghiệm và hiệu chỉnh câu hỏi theo quy trình khoa học.

1.1. Vai trò của đánh giá trắc nghiệm trong đào tạo y khoa

Đánh giá trắc nghiệm đóng vai trò then chốt trong đào tạo y khoa vì tính khách quan và khả năng đánh giá diện rộng. Theo nguyên tắc đánh giá dạy học, kết quả kiểm tra phải phản ánh đúng mục tiêu đào tạo ban đầu. Phương pháp trắc nghiệm khách quan cho phép đánh giá toàn diện kiến thức từ cơ bản đến nâng cao của sinh viên. Tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, đánh giá trắc nghiệm giúp chuẩn hóa quy trình kiểm tra giữa các khóa học. Việc áp dụng ngân hàng câu hỏi đảm bảo tính nhất quán trong đánh giá, giảm thiểu sai lệch do yếu tố chủ quan từ người ra đề.

1.2. Đặc điểm môn sinh lý học và yêu cầu đánh giá

Sinh lý học là môn học nghiên cứu các quá trình hoạt động sống của cơ thể người, bao gồm sinh lý thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa và bài tiết. Kiến thức môn sinh lý mang tính hệ thống cao, đòi hỏi sinh viên phải hiểu sâu về cơ chế hoạt động của từng hệ cơ quan. Đánh giá môn sinh lý cần kiểm tra cả kiến thức lý thuyết lẫn khả năng vận dụng vào thực hành lâm sàng. Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn phù hợp để đánh giá các cấp độ nhận thức từ nhớ, hiểu đến phân tích và tổng hợp thông tin y khoa.

II. Phân tích vấn đề đánh giá bằng trắc nghiệm trong đào tạo y

Đánh giá bằng trắc nghiệm trong đào tạo y khoa đối mặt nhiều thách thức cần giải quyết. Thứ nhất, chất lượng câu hỏi chưa đồng bộ giữa các lần thi, dẫn đến kết quả đánh giá thiếu ổn định. Thứ hai, nhiều câu hỏi chỉ dừng ở mức độ nhận biết, chưa đo lường được năng lực tư duy phân tích của sinh viên. Độ khó câu hỏi cần được phân bổ hợp lý, thường loại bỏ câu quá dễ hoặc quá khó. Độ phân biệt của câu trắc nghiệm là khả năng phân biệt giữa nhóm giỏi và nhóm yếu. Công thức tính độ phân biệt D dựa trên tỷ lệ làm đúng của nhóm cao (27%) trừ đi nhóm thấp. Giá trị D lý tưởng nằm trong khoảng 0.4 đến 0.6. Ngoài ra, việc thiếu ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa khiến giảng viên phải soạn đề mới mỗi lần thi, tốn thời gian và dễ xảy ra sai sót. Các đáp án nhiễu chưa đủ hấp dẫn để đánh lừa học sinh yếu nhưng vẫn giữ được tính hợp lý.

2.1. Hạn chế của hình thức câu hỏi trắc nghiệm hiện tại

Hình thức câu hỏi trắc nghiệm hiện tại tại nhiều trường y khoa còn tồn tại hạn chế đáng kể. Nhiều câu hỏi chỉ sử dụng một dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn mà thiếu sự đa dạng hóa. Câu hỏi đúng-sai, ghép đôi và điền khuyết chưa được khai thác hiệu quả. Ngân hàng câu hỏi phân tán, không được quản lý tập trung theo hệ thống. Việc thiếu quy trình thẩm định khiến chất lượng câu hỏi không đảm bảo. Câu hỏi trùng lặp nội dung giữa các đề thi khác nhau cũng là vấn đề cần khắc phục để đảm bảo tính công bằng.

2.2. Thách thức trong đảm bảo độ tin cậy và hợp lệ của đề thi

Độ tin cậy của đề thi trắc nghiệm đo lường mức độ ổn định kết quả khi thí sinh làm lại cùng đề. Độ hợp lệ đảm bảo đề thi đo đúng nội dung cần đánh giá. Thách thức lớn nhất là xây dựng ma trận nội dung bao phủ toàn bộ chương trình sinh lý học. Mỗi câu hỏi cần được gắn với mục tiêu học tập cụ thể. Việc thiếu đội ngũ chuyên gia đo lường giáo dục khiến quy trình hiệu chuẩn câu hỏi gặp khó khăn. Hệ thống phân tích kết quả thi chưa được ứng dụng rộng rãi để cải tiến chất lượng câu hỏi theo thời gian.

III. Phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sinh lý

Phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sinh lý tuân thủ quy trình khoa học nhiều bước. Bước đầu tiên là phân tích chương trình đào tạo, xác định mục tiêu học tập cụ thể cho từng chủ đề. Tiếp theo, xây dựng ma trận nội dung (test blueprint) đảm bảo bao phủ đầy đủ kiến thức theo các cấp độ nhận thức Bloom. Câu hỏi được soạn thảo theo bốn dạng chính: trắc nghiệm nhiều lựa chọn, đúng-sai, ghép đôi và điền khuyết. Mỗi câu hỏi cần có hướng dẫn rõ ràng, một đáp án đúng và các phương án nhiễu hợp lý. Quy trình thẩm định bao gồm đánh giá bởi hội đồng chuyên gia nội dung và chuyên gia đo lường giáo dục. Câu hỏi được thử nghiệm trên nhóm mẫu sinh viên để tính toán độ khó và độ phân biệt. Độ khó lý tưởng nằm trong khoảng 0.3 đến 0.7, loại bỏ câu quá dễ hoặc quá khó. Ngân hàng câu hỏi được lưu trữ trong hệ thống quản lý học tập, phân loại theo chủ đề và mức độ khó để dễ dàng truy xuất khi xây dựng đề thi.

3.1. Xây dựng ma trận nội dung và phân loại câu hỏi theo Bloom

Ma trận nội dung là công cụ định hướng quá trình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm. Ma trận này xác định tỷ lệ câu hỏi cho từng chủ đề trong chương trình sinh lý học. Phân loại theo thang Bloom bao gồm sáu cấp độ: nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Đối với đào tạo y khoa, tỷ lệ câu hỏi cấp độ áp dụng và phân tích cần chiếm tỷ trọng lớn. Ma trận nội dung giúp đảm bảo đề thi đại diện cho toàn bộ chương trình, tránh tập trung quá mức vào một chủ đề cụ thể.

3.2. Quy trình thử nghiệm và hiệu chỉnh chất lượng câu hỏi

Quy trình thử nghiệm câu hỏi trắc nghiệm bao gồm ba giai đoạn chính. Giai đoạn một, câu hỏi được thử nghiệm trên nhóm nhỏ sinh viên để đánh giá tính rõ ràng. Giai đoạn hai, tiến hành khảo sát trên mẫu lớn hơn để tính toán thống kê mô tả. Chỉ số độ khó (P) và độ phân biệt (D) được tính toán theo công thức đo lường giáo dục. Câu hỏi có D dưới 0.2 bị loại bỏ hoặc chỉnh sửa. Giai đoạn ba, câu hỏi đạt chuẩn được đưa vào ngân hàng chính thức kèm theo dữ liệu thống kê để tham chiếu.

IV. Kết luận và ứng dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sinh lý

Kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch cho thấy việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa giúp tiết kiệm thời gian soạn đề cho giảng viên, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong đánh giá. Hệ thống câu hỏi được phân loại rõ ràng theo chủ đề, cấp độ nhận thức và mức độ khó. Việc ứng dụng ngân hàng câu hỏi vào giảng dạy giúp sinh viên tự đánh giá năng lực, xác định điểm yếu cần cải thiện. Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch để theo dõi sự tiến bộ của người học. Ngân hàng câu hỏi cũng là cơ sở để cải tiến phương pháp giảng dạy, hoàn chỉnh chương trình đào tạo. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác ngân hàng câu hỏi. Mô hình này có thể áp dụng cho các môn học khác trong chương trình đào tạo y khoa tại trường.

4.1. Lợi ích của ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa đối với giảng viên

Ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa mang lại lợi ích lớn cho giảng viên trong công tác đánh giá. Giảng viên tiết kiệm thời gian soạn đề thi nhờ hệ thống câu hỏi đã được phân loại sẵn. Chất lượng câu hỏi được đảm bảo qua quy trình thẩm định nghiêm ngặt. Việc trích xuất câu hỏi theo ma trận nội dung giúp xây dựng đề thi cân đối. Dữ liệu thống kê về độ khó và độ phân biệt hỗ trợ giảng viên lựa chọn câu hỏi phù hợp. Ngân hàng câu hỏi cũng là công cụ đào tạo giảng viên mới về kỹ thuật soạn câu hỏi trắc nghiệm.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng công nghệ trong quản lý câu hỏi

Hướng phát triển ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cần gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin. Hệ thống quản lý học tập (LMS) cho phép lưu trữ, phân loại và truy xuất câu hỏi hiệu quả. Công nghệ trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích kết quả thi, đề xuất câu hỏi phù hợp cho từng nhóm đối tượng. Việc tích hợp ngân hàng câu hỏi với hệ thống thi trực tuyến tạo điều kiện cho đánh giá liên tục. Phát triển ứng dụng di động giúp sinh viên tiếp cận ngân hàng câu hỏi mọi lúc, phục vụ quá trình tự học và ôn tập hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm và sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý. Ở Mỹ: Năm 1890 nhà tâm lý học Hoa Kỳ Mac K. Cattell đưa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ trong tác phẩm “Trắc nghiệm trí tuệ và đo lường”, từ đó trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phương tiện, đo lường trong tâm lý. Trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều trường phái tâm lý học [6].

Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevenment Test ra đời vào năm 1923 tại Mỹ. Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội đồng quốc gia về Đo lường trong giáo dục vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức tư nhân Eduacation Testing Services năm 1947 và American College Testing năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ nhì Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp về trắc nghiệm đã hình thành [11]. Sau các loại trắc nghiệm trí thông minh, kỹ xảo, các trắc nghiệm về khả năng, sở thích, nhân cách,… đã không ngừng được phát triển và áp dụng một cách rộng rãi trong nhiều năm qua. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX, người ta đã dùng phương pháp trắc nghiệm chủ yếu để phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh.

16 Đến năm 1940, ở Hoa Kỳ đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh. Năm 1961, Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn [7]. Ở Pháp: Sang đầu thế kỷ XX, trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu. Đặc biệt năm 1905 Binet và Simon (Pháp) phát minh loại trắc nghiệm trí thông minh trẻ em [18].

Ở Liên Xô: Trong những năm 1926 – 1931, trắc nghiệm thành tích học tập đã được sử dụng ở một số trường. Một vài tài liệu trắc nghiệm được xuất bản, đặc biệt là tác phẩm trắc nghiệm (lý thuyết và thực hành) gồm 2 tập (1928) tập trung một số bài viết giới thiệu cả ưu nhược điểm của trắc nghiệm. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô chính thức nghiên cứu khả năng và tác dụng của trắc nghiệm [7]. Trắc nghiệm tiêu chí Theo Hambleton R.K, đến đầu thập niên 1990, đã có trên 700 bài viết về vấn đề này và có ít nhất 57 định nghĩa khác nhau về trắc nghiệm tiêu chí.

Tại Việt Nam Trắc nghiệm chuẩn mực Ở Việt Nam, trắc nghiệm ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới. Từ đầu thập niên 1950, trắc nghiệm cũng đã được đề cập đến. Kiến thức về trắc nghiệm được thu thập qua các tài liệu giáo dục học và tâm lý học chủ yếu của Liên Xô. Ở Miền Nam: Ở nước ta, loại trắc nghiệm chuẩn mực thường được gọi là trắc nghiệm khách quan và chính thức được nghiên cứu áp dụng tại một số trường Trung học và Đại học ở Miền Nam vào những năm đầu của thập niên 1960.

Năm 1964, “Trung tâm Trắc nghiệm và Hướng dẫn” (một cơ quan đặc trách về trắc nghiệm) được thành lập. Cơ quan này phổ biến nhiều tài liệu về trắc nghiệm [7]. Niên học 1965 – 1966, kỳ thi trung học đệ nhất các môn Sử, Địa, Công dân thi dưới hình thức trắc nghiệm [13]. Năm học 1973 – 1974, tất cả các môn học trong kỳ thi tú tài đều thi trắc nghiệm (dạng nhiều lựa chọn) [11].

Từ đầu năm 1994 khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có những hoạt động cụ thể như tập huấn về trắc nghiệm, khuyến khích sử dụng phương pháp trắc nghiệm thì tại trường Đại 17 học Đà Lạt, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,… đã sử dụng trắc nghiệm thành tích học tập trong các môn thi, kiểm tra. Đầu năm 1996, trắc nghiệm được sử dụng vào kỳ thi tuyển sinh ở trường Đại học Đà Lạt dưới hai hình thức trắc nghiệm luận đề và trắc nghiệm khách quan [1]. Ngày 31/05/1997, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã có buổi tập huấn về trắc nghiệm và khuyến khích toàn bộ giáo viên sử dụng vào việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số môn học. Ở Miền Bắc: Trần Bá Hoành là một trong những người tiên phong nghiên cứu trắc nghiệm khách quan từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX.

Năm 1971, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục có bài giới thiệu về trắc nghiệm. Từ năm học 1975 đến 1993, hình thức trắc nghiệm được áp dụng trong thi kiểm tra thành tích học tập của học sinh nhưng không phổ biến rộng rãi, thường chỉ được áp dụng cho môn Ngoại ngữ. Cho đến nay, trắc nghiệm đã được giới thiệu và áp dụng rộng rãi trong các trường đại học, ở các trường phổ thông và trong các kì thi tuyển sinh. Ngoài ra còn có một số tác phẩm - tác giả nghiên cứu về trắc nghiệm thành tích học tập: - Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục - tác giả Huỳnh Huynh - Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập - tác giả Dương Thiệu Tống - Trắc nghiệm - tác giả Châu Kim Lang.

- Trắc nghiệm và ứng dụng - tác giả Lâm Quang Thiệp. Trắc nghiệm tiêu chí Loại trắc nghiệm này cũng đã được đề cập đến từ năm 1972. Tuy nhiên cho đến hiện nay, trắc nghiệm tiêu chí hầu như vẫn chưa được các giáo viên quan tâm áp dụng. Năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho ra mắt cuốn tài liệu “Trắc nghiệm tiêu chí” – Phương pháp thực hành của Dương Thiệu Tống.

Đây là cuốn tài liệu đầu tiên viết về loại trắc nghiệm này được biên soạn bằng tiếng Việt. Một số khái niệm cơ bản Trắc nghiệm: là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến”. Trắc 18 nghiệm theo tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”. Theo nghĩa chữ Hán, tác giả Dương Thiệu Tống đã giải thích: “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực” [1].

Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học. Trắc nghiệm là một trong những phương pháp, công cụ đo lường trong giáo dục đã, đang và sẽ được các nhà giáo dục – đào tạo trên thế giới cũng như ở Việt Nam phát triển [8]. Trong Giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund: “Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể”. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó.

Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,… Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm. Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi. Người trả lời chọn một câu trả lời đúng nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi.

Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm. Tại các trường Đại học, bộ phận Khảo thí luôn có sẵn một hệ thống ngân hàng câu hỏi để sử dụng trong các kỳ thi, kỳ kiểm tra đánh chất lượng của học sinh sinh viên. Tuy nhiên, để xây dựng một hệ thống ngân hàng câu hỏi hoàn chỉnh, chúng ta cẩn hiểu rõ bản chất và các yếu tố cấu thành của chúng. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng câu hỏi, phản ánh sự phát triển của khoa học trắc nghiệm.

Theo Ward và cộng sự ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi [17]. Theo McCallon và cộng sự, định nghĩa về ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi, thường được tin học hóa để dễ dàng lưu giữ và thuận tiện khi tạo ra các đề thi mới. Mỗi câu hỏi được mã hóa theo từng lĩnh vực nội dung và mục tiêu giảng dạy, cũng như những dữ liệu 19 được thu thập qua thực nghiệm như những số đo về độ khó và độ phân cách của từng câu hỏi [3]. Nghiên cứu của Lâm Quang Thiệp thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được hiểu là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) [2].

Như vậy xây dựng ngân hàng câu hỏi là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) nhằm kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng cần có để thực hiện các công việc của một ngành hoặc một nghề. Trắc nghiệm khách quan là một phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 1. Chức năng của kiểm tra đánh giá Chức năng so sánh: so sánh giữa mục đích yêu cầu đề ra với kết quả thực hiện được. Nếu không có kiểm tra đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực để so sánh kết quả đạt được với mục đích yêu cầu.

Chức năng phát hiện lệch lạc: việc kiểm tra sẽ phát hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được mà môn học đề ra đối với học sinh, qua đó tìm được những khó khăn và trở ngại trong quá trình học tập. Qua đó tìm được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạy cũng như người học, đề ra được những phương án giải quyết. Chức năng điều chỉnh: qua kiểm tra giáo viên tìm được những điều chỉnh cần thiết trong quá trình giảng dạy sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn, trở ngại, thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh tri thức của người học [12].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ