CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC TẠI VIỆT NAM Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước các vùng trong lãnh thổ. Các nguồn nước ở khu vực có nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm nguồn nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nguồn nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD) có thể lên đến 700mg/l và 2500mg/l; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua(CN-) vượt đến 84 lần , H2S vượt 4,2 lần hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phếp nên đã gây ô nhiễm nặng nề đến nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than, về mùa cạn tổng lượng nước thải khu công nghiệp Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước 6 và hàm lượng NH4 là 4mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…. Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải thành phố lên 300.000m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom, khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hòa tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên đến 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời. Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý, mức độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD, COD, Ôxy hòa tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí là 20 lần tiêu chuẩn cho phép. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở khu vực nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước 7 không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500 - 3500 MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800- 12500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe của nhân dân. Theo thống kê của Bộ thủy sản, tổng diện tích nước mặt sử dụng nuôi trồng nước ta tính đến năm 2001 là 751. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước.
Cùng với việc sử dụng nhiều không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, các thức ăn dư thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc, thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cở sở hạ tầng yếu kém lạc hậu. Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc, đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
Chính vì vậy đây là một vấn đề cần được quan tâm của cả xã hội. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MỘT SỐ HỆ THỐNG THỦY LỢI Ở NƯỚC TA 1. Hệ thống An Kim Hải Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước 8 An Kim Hải là hệ thống thủy lợi vùng ven biển. Mức độ ô nhiễm tăng dần từ thượng lưu về hạ lưu và các vị trí xa nguồn nước, ít được tiêu thoát.
Do chất thải ngày một gia tăng, hiện trạng tiêu thoát nước chưa được triệt để nên một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng nước đã có chiều hướng xấu đi, nhất là vào mùa kiệt và ở những nơi xa nguồn nước, nhiều chỉ tiêu đã đến gần hoặc vượt quá giới hạn quy định của các tiêu chuẩn hiện hành, cần phải có giải pháp kịp thời mới có thể giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm lớn cho nguồn nước trong những năm tới. Qua các kết quả điều tra, phân tích chất lượng nước và các nguồn ô nhiễm nước hệ thống thủy nông An Kim Hải cho thấy: - Tình hình ô nhiễm trong khu vực hệ thống đã có một số nơi gia tăng đáng kể như Thị trấn Kim Thành, Phú Thái và một số vùng cuối hệ thống, đặc biệt là đoạn từ quốc lộ 5 chuyển xuống đây là khu vực có tốc độ xây dựng các công trình nhà cửa, đô thị hóa tăng rất nhanh. - Diện tích các khu chứa nước thải tạm thời bị thu hẹp nên mọi nguồn nước thải đều đổ trực tiếp ra kênh vào hệ thống. - Đổ vật liệu, phế liệu, rác thải ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm do rác thải, phế thải phân huỷ.
- Các hoạt động khác cũng có thay đổi nhiều, như các khu sản xuất công nghiệp, các khu chợ, các hoạt động giao thông, sinh hoạt dọc kênh, sông… - Mùa khô mức độ ô nhiễm đoạn cuối kênh, sông (Khu vực qua thành phố Hải Phòng) cao hơn nhiều so với mùa mưa, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nước, và do các hoạt động phát triển xây dựng dân dụng. - Chất lượng nước trong toàn hệ thống có xu hướng giảm dần từ đầu hệ thống đến cuối hệ thống. Hệ thống Nam Thái Bình Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước 9 Theo kết quả điều tra sơ bộ từ các phiếu điều tra cơ sở xã, phường về mức độ ô nhiễm theo cảm quan. Hiện tượng ô nhiễm xảy ra chủ yếu đối với các xã ven đô, có kênh nước thải chảy qua, cơ bản do các nguồn chất thải từ thành phố Thái Bình.
Đối với các xã khác, nguồn ô nhiễm chủ yếu do chất thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm…và các chất thải sinh hoạt đổ vào hệ thống kênh mương. Hầu hết các địa phương phản ánh có ô nhiễm do các loại hóa chất như thuốc trừ sâu, phân hóa học dùng tràn lan, bao gói sau khi dùng vứt bừa bãi, không có sự quản lý. Tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật không cao, có thể do lượng hóa chất tồn dư đã phân hủy bớt trong điều kiện tự nhiên. Tất cả các địa phương có các khu công nghiệp, làng nghề đều phản ánh tình trạng chung là ô nhiễm nặng, như phường Tiền Phong, xã Vu Chính, xã Phú Xuân (TP Thái Bình), xã Vũ Đoài (huyện Vũ Thư), xã Tây Giang, xã Nam Thắng, xã Nam Hưng, xã Tây Tiến (huyện Tiền Hải), xã Nam Cao, Nguyệt Lãm, An Bồi, xã Minh Hưng (huyện Kiến Xương) vv… Kết quả khảo sát cho thấy mức độ ô nhiễm trong hệ thống là khá cao, phản ánh qua các chỉ tiêu COD, BOD, DO, Coliforms… Mức độ ô nhiễm nước thay đổi theo thời gian trong năm, đặc biệt cao vào mùa khô.
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC 1. Tình hình giám chất Lượng nước ở một số nước [1] 1- BANGLADESH Mặc dù công nghiệp hóa còn ở giai đoạn đầu nhưng các vấn đề ô nhiễm công nghiệp đã và đang phát sinh ở đây.