MỞ ĐẦU Phân tích, dự báo kinh tế là công việc phức tạp nhƣng rất cần thiết đối với mọi quốc gia. Các cơ quan Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… luôn cần có các thông tin phân tích, dự báo kinh tế để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định trong quản lý điều hành, xây dựng chiến lƣợc và kế hoạch sản xuất kinh doanh… Để có đƣợc những thông tin nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu đã cố gắng ứng dụng các mô hình toán học để phân tích và dự báo các hành vi của các tác nhân kinh tế. Một trong những mô hình đƣợc ứng dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích, dự báo kinh tế là mô hình bảng vào-ra (Input-Output - IO). Mô hình IO lần đầu tiên đƣợc đƣa ra bởi Wassily Leontief.
Đây là một trong những mô hình vĩ mô đầu tiên của kinh tế học hiện đại và đƣợc ứng dụng trong phân tích kinh tế từ những năm 1930. So với các công cụ dự báo kinh tế vĩ mô khác, mô hình IO có ƣu điểm là có thể phân tích đồng thời quan hệ kinh tế giữa các ngành, trên phƣơng diện phân phối và hình thành sản phẩm; phân tích đuợc các mối quan hệ cân đối hiện vật cũng nhƣ giá trị; phân tích đƣợc các tác động dây chuyền trong nền kinh tế… Ở Việt Nam, mô hình IO chỉ đƣợc bắt đầu nghiên cứu xây dựng từ giữa những năm 1980; việc lập trình cho một số ứng dụng của bảng IO ở Việt Nam chƣa đƣợc quan tâm. Hiện việc phân tích và tính toán ứng dụng mô hình IO chỉ dựa vào bảng tính EXCEL. Việc ứng dụng các kỹ thuật tin học để xây dựng phần mềm/chƣơng trinh tin học nhằm hỗ trợ quá trình phân tích và dự báo kinh tế nói chung và phân tích kinh tế dựa vào bảng IO nói riêng đang đƣợc các nhà tin học kinh tế quan tâm.
Đề tài “Đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2008 bằng mô hình toán học” sẽ tập trung tìm hiểu và ứng dụng của mô hình IO để phân tích đánh giá hiệu quả của ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam dựa trên số liệu thực tế của nền kinh tế và lập chƣơng trình tin học cho quá tình tính toán và phân tích đó. Trong Đề tài này, tác giả ứng dụng 3 mô hình IO các năm 1996, 2000 và 2007 do Tổng Cục Thống kê điều tra, xây dựng để phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam giai đoạn 1996-2007. Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho một số kết luận định tính về các nhân tố quyết định sự phát triển của các ngành Công nghiệp chế tác ở Việt Nam hiện nay. Nội dung chính của Đề tài đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nội dung và phần phụ lục.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng I: Tổng quan về mô hình IO sẽ trình bầy một cách tóm lƣợc về mô hình này và những ứng dụng chủ yếu của nó này trong phân tích, nghiên cứu các ngành kinh tế. Chƣơng II: Ứng dụng mô hình IO vào các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008 sẽ ứng dụng lý thuyết mô hình IO và sử dụng bảng tính Excel làm môi trƣờng tính toán để nghiên cứu tác động của các nhân tố về phía cầu (hay sử dụng), của việc thay đổi hệ số kỹ thuật đến tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008. Chƣơng III: Xây dựng chƣơng trình đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam bằng mô hình IO sẽ trình bầy kết quả xây dựng chƣơng trình tin học nhằm tự động hoá quá trình tính toán trong phân tích IO của các nhà phân tích và dự báo kinh tế. Phần phụ lục sẽ giới thiệu mã lệnh (code) của một số thủ tục, hàm và chƣơng trình con của chƣơng trình tin học đƣợc xây dựng.
Cuối cùng là phần Kết luận và Tài liệu tham khảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH IO Trong nhiều thập kỷ qua, với việc ứng dụng ngày càng nhiều các công cụ toán học vào nghiên cứu kinh tế, các phƣơng pháp dự báo kinh tế đã phát triển không ngừng. Các mô hình toán và kinh tế lƣợng rất đƣợc quan tâm trong công tác dự báo. Tuy nhiên, cho đến nay, tính chính xác của các mô hình dự báo kinh tế còn nhiều giới hạn.
Các cơ quan nghiên cứu lớn nhƣ Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đều có các mô hình dự báo rất phức tạp và chi tiết nhƣng các kết quả dự báo của họ so với thực tiễn nhiều khi vẫn có sai số khá lớn. Điều này có thể nhận thấy qua việc so sánh các chỉ tiêu dự báo của họ với các chỉ tiêu thực tế xẩy ra sau đó. Mặc dù các kết quả dự báo so với thực tiễn vân chƣa thật chính xác nhƣng nói chung chúng phản ánh đƣợc xu thế biến động của các hiện tƣợng kinh tế. Việc nghiên cứu tìm kiếm các phƣơng thức dự báo thích hợp với nền kinh tế luôn là một việc cần thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia.
Một trong các mô hình toán học hỗ trợ cho các nhà kinh tế trong việc phân tích và dự báo là mô hình Input-Output. Chƣơng này sẽ trình bầy tổng quan về mô hình này và việc ứng dụng của nó trong việc phân tích, dự báo kinh tế. Mô hình Input-Output (Mô hình IO) 1. Lý thuyết về mô hình IO Mô hình IO về cơ bản là một hệ phƣơng trình tuyến tính (linear) mô tả mối liên hệ giữa đầu vào (input) và đầu ra (output) của từng ngành sản xuất trong nền kinh tế.
Vì đầu vào của một ngành có thể là đầu ra của nhiều ngành khác, bất kỳ một thay đổi nào trong một ngành (ví dụ sản phẩm tăng, thuế thay đổi, công nghệ thay đổi…) đều có sự “lan tỏa” ra các ngành khác, không trực tiếp cũng gián tiếp. Bởi vậy ứng dụng quan trọng nhất của mô hình này là tính các “chỉ số lan tỏa” (multiplier) của từng ngành, nghĩa là ảnh hƣởng khi nó thay đổi vào các ngành khác. Bảng IO Bảng IO bắt nguồn từ những ý tƣởng trong cuốn „Tƣ bản‟ của Karl Marx khi ông tìm ra mối quan hệ trực tiếp theo quy luật kỹ thuật giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất. Tƣ tƣởng này của ông sau đó đƣợc Wassily Leontief (Nobel kinh tế, 1973) phát triển bằng cách toán học hoá toàn diện quan hệ cung, cầu trong toàn nền kinh tế.
Leontief coi mỗi công nghệ sản xuất là một mối quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hệ tuyến tính giữa số lƣợng sản phẩm đƣợc sản xuất ra và các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm chi phí đầu vào. Mối liên hệ này đƣợc biểu diễn bởi một hệ thống hàm tuyến tính với những hệ số đƣợc quyết định bởi quy trình công nghệ. Với tƣ tƣởng này, vào năm 1936 W. Leontief đã xây dựng cho Hoa kỳ hai bảng IO đầu tiên với số liệu của các năm 1919 và 1929.
Năm 1941 chúng đƣợc xuất bản với tên gọi “ Cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ”. Sau này bảng IO đã đƣợc phát triển và mở rộng để nghiên cứu rất nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học và môi trƣờng … Đến nay, bảng IO còn đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ quan trọng để lƣợng hóa mối quan hệ giữa kinh tế và môi trƣờng. Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), một hệ thống thống kê phản ánh vĩ mô nền kinh tế trong nhiều thập kỷ, đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới áp dụng, coi mô hình IO là trung tâm của hệ thống này. Tuy nhiên hệ thống SNA lần đầu tiên đƣợc Liên Hợp Quốc xuất bản vào năm 1953 không có mô hình IO.
Hệ thống tài khoản quốc gia đƣợc điều chỉnh năm 1968 đã coi bảng IO là trung tâm của toàn bộ hệ thống. SNA đã sử dụng bảng IO để mô tả việc sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ, lao động (đƣợc đo bằng thu nhập ngƣời lao động), tài sản cố định (đƣợc thể hiện bằng khấu hao tài sản cố định) trong quá trình sản xuất của từng hoạt động sản xuất. Bảng IO không những cho biết chi phí trực tiếp cho sản xuất mà cả chi phí gián tiếp trong vòng tròn khép kín của quá trình sản xuất. Bảng IO có cấu trúc nhƣ sau: x11 x12.
ynp mn xn ------------------------------------------------------------------------------------------- x11m x12m. vqn ----------------------------------- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. xn Ở đây: n = - số ngành sản phẩm của bảng IO x = - véc tơ cột gồm n thành phần x1,., xn là giá trị sản xuất của các ngành p = 5 - Số thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể là các thành phần tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng xã hội, tích luỹ tài sản cố định, tích luỹ tài sản lƣu động và xuất khẩu. X = (xij) - ma trận kích thƣớc n n các sản phẩm trung gian, cụ thể xij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào quá trình sản xuất của ngành j Y = (yij) - ma trận kích thƣớc n 5 các thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể yij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào nhu cầu cuối cùng loại j.
Xm, Ym - các ma trận tƣơng tự nhƣ ma trận X, Y nhƣng xây dựng đối với các sản phẩm nhập khẩu. m - véc tơ cột gồm n thành phần m1,., mn là giá trị sản phẩm nhập khẩu của các ngành. q = 4 - số thành phần của đầu vào đầu tiên (primary inputs), cụ thể là các thành phần khấu hao tài sản cố định, thù lao lao động, lợi nhuận và thuế sản xuất. V = (vij) - ma trận kích thƣớc 4 n các thành phần của đầu vào đầu tiên đối với n ngành, cụ thể vij là giá trị của đầu vào đầu tiên loại i trong ngành j, x - véc tơ hàng gồm n thành phần x 1 ,., x 20 là tổng sản phẩm của các ngành, A = (aij) - ma trận kích thƣớc n n các hệ số đầu vào, ở đây xij aij xj Ad, Am - các ma trận đƣợc xây dựng tƣơng tự nhƣ ma trận A nhƣng tách riêng cho sản phẩm trong nƣớc và sản phẩm nhập khẩu.