mở đầu thời kỳ phong trào cách mạng ở Khu 5 chuyển sang thế tiến công, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng toàn miền Nam… Cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng và miền Tây tỉnh Quảng Ngãi chuyển sang một cục diện mới, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữ quyền làm chủ mà nhân dân đã giành được trong cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1959. [23; 407] Tại đồng bằng Nam Bộ, các trận diệt ác diễn ra hằng ngày. Phong trào đặc biệt sôi nổi ở các vùng ven các căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười. Các đơn vị vũ trang ở đây sau một thời gian củng cố đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong quần chúng, diệt nhiều tên ác ôn, đánh lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch.
Tại miền Đông Nam Bộ và nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, được tiếp thu tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các đơn vị vũ trang tập trung, các đội vũ trang tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động làm nhiệm vụ xung kích hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa. Đầu tháng 1 năm 1960, Hội nghị cán bộ quân sự miền Đông Nam Bộ được tổ chức ở Bàu Rá (tỉnh Tây Ninh). Hội nghị bàn nhiệm vụ xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong năm 1960, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền, làm chủ ở vùng nông thôn lấy vũ khí địch trang bị cho các đơn vị vũ trang ta, nhằm thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ. Phương án đánh trận Tua Hai do Hội nghị đề ra được Xứ ủy Nam Bộ phê chuẩn.
[23; 409] Tua Hai là một đồn binh cũ của Pháp, cách thị xã Tây Ninh 7 ki-lô-mét về phía tây bắc, được quân nguỵ mở rộng thành căn cứ trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 21. Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý (năm 1960), đề phòng binh biến xảy ra, địch chỉ cho một trung đội thường trực chiến đấu được mang vũ khí. Nhận thấy đây là thời cơ hết sức thuận lợi, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ sử dụng 3 đại đội bộ binh: 59, 70, 80; Đại đội đặc công 60 (chủ lực miền) và 3 tiểu đội vũ trang tỉnh Tây Ninh, do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự Miền chỉ huy. Một số vũ khí các loại cất giấu từ năm 1954 được kịp thời trang bị cho các đơn vị.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 1 năm 1960, phối hợp với nội ứng, các đơn vị bất ngờ tập kích làm chủ hoàn toàn căn cứ Tua Hai, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên, thu 1. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng làm chấn động toàn miền Nam, khiến cho quân địch, đặc biệt là lực lượng bảo an, dân vệ hoang mang lo sợ, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Tây Ninh đứng lên đồng khởi, giải phóng 24 xã trong tỉnh. Trên 70% bộ máy kìm kẹp của địch ở xã, ấp bị xoá bỏ. Vùng giải phóng được mở rộng đến sát thị xã và các thị trấn.
Đầu năm 1960, phong trào đồng khởi nổ ra ở Bến Tre. Ngày 17 tháng 1 năm 1960, nhân dân xã Định Thuỷ nổi dậy diệt tổng đoàn dân vệ gồm 12 tên và tiểu đội dân vệ đóng ở xã, bắt bọn tề điệp, ác ôn, phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, thu 28 khẩu súng. Tiếp đó trong hai ngày 18 và 19 tháng 1, các xã Phước Hiệp, Bình Khánh nổi dậy giành chính quyền. Thắng lợi của cuộc đồng khởi ở ba 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã ở tỉnh Bến Tre, khiến cho bộ máy thống trị của địch bị rúng động, khí thế quần chúng lên rất cao.
Ngày 19 tháng 1 năm 1960, ba tiểu đội vũ trang được thành lập tại Bình Khánh. Một số cán bộ, chiến sĩ và vũ khí thu được của địch được ưu tiên tập trung cho xây dựng đại đội vũ trang đầu tiên của tỉnh Bến Tre mang phiên hiệu Đại đội 264. Như vậy, từ tay không nổi dậy, Bến Tre đã xây dựng được đại đội vũ trang, từng bước thực hiện phương thức tiến công địch bằng chính trị, quân sự và cả binh vận. Những ngày từ 17 đến 24 tháng 1 năm 1960 là "tuần lễ toàn dân đồng khởi" của tỉnh Bến Tre.
Nhân dân 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nhất tề nổi dậy. Tính đến cuối tháng 1 năm 1960, quân và dân Bến Tre đã giành quyền làm chủ ở 22 xã; còn ở 25 xã khác, nhân dân tiến hành vây đồn, giải phóng thêm nhiều thôn, ấp. Tại thị xã Bến Tre, lực lượng tự vệ đánh bốt Lò Tương, diệt ác ở phường 1, ngã ba Tháp - Phú Khương; 300 tên tề, điệp ác ôn bị bắt, 37 đồn bị bức rút, bức hàng. Nhân dân Bến Tre thu được 150 khẩu súng và nhiều loại đạn dược các loại.
Tháng 2 năm 1960, Tỉnh ủy Bến tre tập hợp các đội vũ trang ở cù lao Bảo (các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành) thành lập đơn vị vũ trang tập trung thứ hai, mang phiên hiệu Đại đội 269. Đồng thời với phong trào đồng khởi của quân và dân Bến Tre, ngày 14 tháng 9 năm 1960, các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An, Châu Đốc, An Giang tiến hành đồng khởi. Tiếp đó, các ngày 23, 24, 25 tháng 9 năm 1960, các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Phong, Kiến Tường cũng đồng khởi. Cuộc đồng khởi ở Bến Tre đã nhanh chóng tạo nên bước phát triển nhảy vọt cho cách mạng miền Nam.
Bộ máy chính quyền của địch ở phần lớn các xã, ấp nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Nam Trung Bộ bị tan rã. Hàng vạn tên tề điệp ác ôn và lực lượng vũ trang của địch ở cơ sở bị tiêu diệt. Nhiều khu dinh điền, khu trù mật, khu tập trung dân của địch bị phá tan. Phong trào đồng khởi đã giáng một đòn mạnh mẽ và bất ngờ vào chính quyền phát xít Mỹ - Diệm.
Vùng giải phóng và vùng quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ được mở rộng. Trên 70% số 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ruộng đất bị địch chiếm đoạt được trao trả lại cho nông dân. Lực lượng đấu tranh có tổ chức của quần chúng phát triển mạnh mẽ, trở thành một lực lượng tiến công hùng hậu và sắc bén của cách mạng. Bằng cuộc đồng khởi, cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công.
Qua phong trào đồng khởi, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân tự vệ xã, ấp) từng bước được hình thành. Bộ đội chủ lực có Tiểu đoàn 500 (có 997 người) thuộc Liên tỉnh Đông Nam Bộ; Tiểu đoàn 261 (có 266 người) thuộc Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ; Tiểu đoàn 306 (có 771 người) thuộc Liên tỉnh miền Tây Nam Bộ. Liên khu 5 có 2 đại đội bộ binh và 12 đội đặc công (khoảng 1. Đây là những đơn vị chủ lực được lựa chọn từ các đơn vị vũ trang tập trung tỉnh, huyện; phần lớn đã trải qua kháng chiến chống thực dân Pháp và trưởng thành trong cao trào đồng khởi.
Bộ đội địa phương ở Nam Bộ có 17 đại đội tỉnh, 70 trung đội huyện (khoảng 700 người); ở Liên khu 5 có 123 trung đội và 76 đội vũ trang công tác (khoảng 5. Đây là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh, huyện. Lực lượng dân quân tự vệ, du kích xã, ấp ở Nam Bộ có khoảng 1 vạn người, 190 xã có trung đội du kích, gồm khoảng 7. Ở Liên khu 5, lực lượng tự vệ, du kích xã miền núi có khoảng 3.
Ra đời từ lực lượng chính trị của quần chúng, phát triển nhanh chóng trong quá trình đồng khởi, du kích, tự vệ là lực lượng vũ trang rộng rãi của Đảng ở cơ sở làm nhiệm vụ xung kích và hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, bảo vệ chính quyền cách mạng ở xã, ấp, phối hợp với bộ đội tập trung trong chiến đấu. [23; 416] Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại Rùm Đuông xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh - một vùng giải phóng ở Đông Nam Bộ, Đại hội đại biểu nhân dân toàn miền Nam đã họp và tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, bầu ra Ủy ban Trung ương do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước không phân biệt 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xu hướng chính trị. Tiếp đó, Ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng các tỉnh, huyện, xã lần lượt ra mắt nhân dân, vừa làm chức năng tập hợp lực lượng của mặt trận vừa làm chức năng của chính quyền cách mạng.
Ban chỉ huy quân sự các cấp khu, tỉnh, huyện, xã cũng được thành lập, giúp cấp ủy Đảng chỉ đạo và chỉ huy các đơn vị vũ trang, động viên thanh niên tòng quân, tiếp nhận sự giúp đỡ vật chất của nhân dân cho các lực lượng vũ trang. Cuối tháng 1 năm 1961, để tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam trong điều kiện giao thông liên lạc giữa hai miền có nhiều khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được cử làm Bí thư Trung ương Cục. [104; 195] Theo dõi sát từng bước phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam và những diễn biến mới trong âm mưu và hành động của Mỹ - nguỵ, ngay từ đầu năm 1961, Bộ Chính trị đã dự kiến về sự xuất hiện một tình hình mới, một cuộc đấu tranh ác liệt, giằng co phức tạp giữa ta và địch để giành giật chính quyền cơ sở ở thôn xã.
Bộ Chính trị chỉ thị: ". tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam".