Chương 1: Tông quan về địa bàn nghiên cứu và một số vấn đề về dòng họ, nghỉ lễ thờ cúng dòng họ (27 trang). Chương 2: Những biểu hiện trong nghỉ lễ thờ cúng dòng họ của người Hmông xã Chiềng Hic (40 trang). Chương 3: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong nghỉ lễ thờ cúng dòng họ của người Hmông ở Chiềng Hặc hiện nay (15 trang). CHUONG 1 TONG QUAN VE DIA BAN NGHIEN CỨU VÀ MOT SO VAN DE VE.
DONG HQ, NGHI LE THO CUNG DONG HO 1. Tổng quan về địa bàn và tộc người nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên Nằm sát bên đường quốc lộ số 06 cách trung tâm huyện 11 km Chiềng Hặc là một xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Yên Châu. Xã Chiềng Hặc được thành lập năm 1955.
Tên xã được lấy từ truyền thuyết “Hặc Phanh ” — kể lại tỉnh thần đoàn kết đùm bọc nhau chiến thắng kẻ thù của. những người dân sinh sống trên mảnh đất này. Chiểng Hặc là một xã anh hùng. trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Toàn xã có 17 thôn bản là: Tài Vài, Huổi Lắc, Nà Phiêng, Văng Ling, Hat Xét, Huổi Toi, Huôi Thón, Bản Cang, Na Nga, Hudi Mong, Hudi Nga, Hang Héc, Bo Kiéng, Chi Day, Co Xáy, Pa Hốc, xóm Đoàn Kết Chiềng Hặc có địa giới hành chính giáp với các xã: Phía Bắc giáp với xã Sặp Vạt Phía Tây giáp với xã Chiềng Khoi Phía Đông giáp với xã Mường Lựm Phía Nam giáp với xã Tú Nang Địa hình của xã rất phức tạp có độ dốc lớn đã hình thành nên hai vùng là: vùng thấp chạy dọc đường Quốc lộ số 06 và vùng cao gồm 04 bản của người Hméng, cach trung tâm xã khoảng 16 km Diện tích đất tự nhiên của xã là 8.973,66 ha trong đó: + Đất sản xuất nông nghiệp là 2498,6 ha, chiếm 27,85% tông diện tích đất tự nhiên; đất trồng cây hàng năm chiếm diện tích khá lớn 88,86% với diện tích 2220.2 ha + Đất lâm nghiệp là 5287,28 ha, chiếm 58.92% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu là rừng khoanh nuôi tái sinh và rừng trồng bảo vệ đầu nguồn. + Đất chuyên dùng là 106,16 ha, chiếm 1,18% tổng diện tích tự nhiên trong đó đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện, trạm y tế là 1.00 ha chiếm 0,94 %, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 5,27 ha chiếm 4.96 %, đất sử dụng vào mục đích công công là 99,89 ha, chiếm 94,09 %. + Đất khu đân cư là 34,18 ha, chiếm 0,38% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung ven quốc lộ 06 còn một số phân tán rải rác ở lưng chừng núi. + Đất chưa sử dụng là 11,67 ha, chiếm 57,67% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông, lâm nghiệp còn khá lớn (số liệu báo cáo tổng hợp của xã Chiểng Hặc năm 2010).
Rừng ở địa bàn xã chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn. Đất đai của xã Chiềng Hặc gồm các loại chính như sau: ~ Đất feralit bao trùm hầu hết vùng đổi núi có mầu đỏ vàng, đỏ nâu, chứa nhiều Fe, AI, có phản ứng chua nhẹ. Loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm. nghiệp, cây ăn quả dải ngày.
~ Đất phù sa sông suối phân bố chủ yếu ven suối Bưn thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả. ~ Đất đốc tụ phần lớn phân bố ở các thung lũng, trong quá trình canh tác đã biến đổi Jin, thích hợp cho việc trồng lúa, ngô, hoa màu, cây ăn quả. Đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Đất là một tài sản cố định, một thước đo của sự giàu có.
Giá trị đất đai trên mỗi ha thường phản ánh mức lợi tức đối với đắt đai như một sự đảm bảo cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, sự chuyên nhượng của các thế hệ và là nguồn lực do mục đích. Do đó, số lượng lao động nhiều hay ít, chất lượng lao động tốt hay xấu đều ảnh hưởng đến giá trị sản xuất của ngành trồng trọt. Khí hậu thời tiết và thủy văn: Nằm ở khu vực phía Đông Nam của tỉnh Sơn La, xã Chiềng Hặc chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa tây nam về mùa hè. Hàng năm thường xảy ra hạn hán và giá rét ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào.
Giữa các mùa trong năm. thường có sự biến thiên lớn về nhiệt độ. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 - 28°C.
Sự chênh lệch về nhiệt độ đã làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng va phát triển của cây trồng, vật nuôi. Mùa nắng được bắt đầu vào tháng 4 đến cuối tháng § trong thời gian này kết hợp với gió Lào làm cho nhiệt độ có lúc lên đến 36 - 38°C. Lượng mưa hàng năm khoảng 3. Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp gây ra giá rét và xảy ra hiện tượng sương muối làm cho cây trồng, hoa màu bị ảnh hưởng đến chu kỳ sinh trưởng và phát triển 1.
Người Hmông ở xã Chiềng Hặc 1. Quá trình lịch sử và phân bổ dân cư Dân tộc Hmông ở nước ta tự gọi là Mống, Ná Miảo, Mèo, Mẹo, Miếu ha, Man tring [34, tr. 292], là một dân tộc ít người ở Việt Nam với dân số hiện nay. khoảng 80 vạn người, cư trú trên 16 tỉnh miễn núi phía Bắc, chủ yếu ở các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Cao Bằng.
Sau cách mạng tháng Tám, thể theo nguyện vọng của đồng bảo, từ “Mèo”' được thay thế bằng từ “H"mông” (Hmông). Đây là một âm tiết phát âm từ âm. Bởi vì trong hệ thống phụ âm tiếng Việt không có âm tố nào ghi âm chính xác được âm tiết trên nên các nhà ngôn ngữ học đã mượn phụ âm “Hm” trong hệ thống phụ âm tiếng Hmông để ghi âm từ "H"mông”. Do sự phát âm khó.
khăn, từ năm 1992 đến nay, Nhà nước ta đã thống nhất phiên âm tên gọi của đồng bào là “Hmông” và dùng cách viết “Hmông” thay cho H*mông. Đây là cách gọi tên và cách ghỉ danh được người Hmông tán thành thay cho cách phát âm là *Hơ-Hmông” trước đây làm nhiều người Hmông không đồng ý [Š, tr. 13] Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc Hmông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có số lượng cư. dân đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc Việt Nam.
Nhìn chung, ý kiến c các nhà nghiên cứu đân tộc học ở Việt Nam về lịch sử hình thành dân tộc Hmông là tương đối thống nhất khi cho rằng người Hméng di eư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về trước. Người Hmông đến nước ta có thể gồm nhiều đợt qui mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng có ba đợt quy mô đông nhất [ l6, tr. Con đường thiên di của họ từ Vân Nam sang, từ Qui Châu qua Vân Nam hoặc từ Quảng Tây sang cư trú ở các vùng. biên giới phía Bắc.
Thời kỳ đầu tiên cách đây trên 300 năm, gần 100 hộ, thuộc các dòng họ Lù, Giang tir Qui Chau sang Déng Văn. Đợt thiên di thứ hai của người Hmông khoảng trên 100 hộ trong đó có những hộ thuộc các họ Vàng, Lù đến khu vực Đồng Văn, còn một số nhóm khác ít người hơn thuộc các họ Chấu, Mùa, Sùng, Vừ, Hoàng vào khu vực Sỉ ma cai, Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sau đó di chuyển rộng ra các tỉnh Tây Bắc. Đợt thiên đĩ thứ 3 được diễn ra dưới triều Mãn Thanh sau phong trào Thái bình Thiên quốc. Khi phong trào đấu tranh của đồng bào Hmông bị thất bại, đại bộ phận.
người Hmông phải di cư lánh nạn, đây là đợt thiên di lớn nhất của người Hmông vào Việt Nam cách đây khoảng 100~ 120 năm [ló, tr. 23] Đến Việt Nam, với một vùng đất mới, không có chiến tranh sắc tộc, chấm dứt một giai đoạn dài của lịch sử gắn liền với những cuộc thiên di đầy nước mắt và máu, người Hmông đã tìm thấy một quê hương mới và cuộc sống hứa hẹn những ấm no và hạnh phúc. Những câu chuyện dân gian của người Hmông vẫn còn ghi lại: Việt Nam. là nơi đất đai màu mỡ để làm ăn, nơi có quả bí to như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó đẻ; nó vừa là ô, vừa là thức ăn cho lợn.
Nơi trồng cây lương thực. gốc có củ, thân có bắp, ngọn trổ lúa [34, tr. Ngoài Việt Nam, người Hmông còn cư trú ở một địa bàn khá rộng lớn thuộc phía Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Miến Đii Sau 1975, cộng đồng người Hmông còn di cư sang sinh sống ở các nước như Mỹ, Pháp, Úc. con số lên tới hàng trăm nghìn người [20, tr.
25) Lịch sử của công đồng người Hmông ở Việt Nam là lịch sử của những cuộc thiên di là một bản trường ca đầy bí tráng mà mỗi trang đều được viết lên bằng. nước mắt và máu. Với điều kiện sống hết sức khắc nghiệt đã góp phần hun đúc lên một diện mạo tâm hồn Hmông với bản lĩnh can trường, dũng cảm, chai sạn, chắc nich như đá núi. tỉnh Sơn La người Hmông chiếm khoảng 13% dân số toàn tỉnh sinh sống chủ yếu ở các huyện vùng cao Bắc Yên, Thuận Châu, Mộc Châu, Sốp Cộp, Mường.
La, Sông Mã và Yên Châu. Người Hmông ở xã Chiềng Hặc huyện Yên Châu có. nguồn gốc từ vùng Lào Cai di cư xuống. Theo hồi ức của người già trong bản kể lại rằng: Tổ tiên của người Hmông ở đây từ Lào Cai xuống Hồng Ngài (huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La) về Chung Quan Thèn, Chỉ Lanh (thuộc xã Chiềng Hặc) rồi từ đây chuyển ra các vùng lân cận như: Khau Đay, Chỉ đẩy, Hang Hốc cách đây khoảng 150.
Sau một thời gian sinh sống di cư ngày nay người Hmông ở Chiểng Hặc định cư tại 04 bản trong đó có Co Xáy là bản mới được thành lập năm 1994. Co xáy có nghĩa là một loại cây, co — được lấy theo tiếng Thái có nghĩa là cấy, xáy là một cây thân gỗ có sức sống rất tốt ở cả môi trường nước cũng như khô hạn. Sống ở đâu rễ cũng phát triển thành chùm, bám chặt vào đất tìm sự sống có tác dụng bảo vệ sự xói mòn của đất. Vùng thung lũng chân núi có độ cao 900m này có một khe đất màu mỡ, có mạch nước ngầm đùn lên.