Tổng quan nghiên cứu

Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 62 km về phía Tây Bắc, vùng đất xã Xuân Lộc thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ là địa bàn cư trú lâu đời của người Việt cổ với các di chỉ khảo cổ học Gò Chè và Gò Cháy. Trong không gian văn hóa hạ lưu sông Đà, làng Hạ Bì Hạ nổi bật như một trung tâm tín ngưỡng cổ truyền đặc sắc, lưu giữ bản ngọc phả niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên năm 1572 cùng 3 đạo sắc phong thời Nguyễn. Tuy nhiên, trải qua hơn 60 năm biến thiên lịch sử kể từ năm 1953, nhiều nghi thức tế lễ và trò diễn dân gian độc đáo của hội làng đã đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, chưa từng được khảo sát toàn diện dưới góc độ khoa học chuyên ngành.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của tác giả Bùi Vũ Duy Quang, do PGS. Từ Thị Loan hướng dẫn khoa học tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2015, đã giải quyết khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cội nguồn lịch sử, không gian thiêng, hệ thống di tích và diễn trình thực hành lễ hội làng Hạ Bì Hạ từ truyền thống đến hiện đại. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ không gian di tích đình và đền thờ Tiên Cung công chúa tại xã Xuân Lộc trong tiến trình từ thế kỷ XVI đến mùa phục dựng điểm nhấn năm 2015.

Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa chuẩn xác nhằm bảo tồn một thành tố tiêu biểu thuộc không gian Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ. Với hơn 20 tư liệu văn bản Hán Nôm và hàng loạt phỏng vấn nhân chứng sống, luận văn đóng góp giải pháp quản lý di sản, góp phần gia tăng giá trị văn hóa địa phương lên hơn 80% trong các hoạt động liên kết du lịch cội nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng văn hóa của các học giả nhân học và văn hóa học Việt Nam để phân tích cấu trúc làng xã cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mô hình nghiên cứu xem xét lễ hội như một chỉnh thể văn hóa toàn vẹn bao gồm hai phần hữu cơ: phần lễ trang nghiêm mang tính phụng thờ thiêng liêng và phần hội náo nhiệt với các trò chơi dân gian cộng đồng. Cùng với đó, lý thuyết tiếp biến văn hóa và địa - văn hóa được sử dụng để lý giải sự dung hợp giữa tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của cư dân sông nước vùng sông Đà với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thời đại Hùng Vương.

Năm khái niệm cốt lõi được định hình xuyên suốt công trình gồm: tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, tính thiêng trong không gian nghi lễ, diễn trình lễ hội, tính cố kết cộng đồng làng xã và trò diễn dân gian. Tác giả chỉ ra rằng thời kỳ trị vì kéo dài khoảng 160 năm của Vua Hùng thứ 17 (Hùng Nghị Vương, 596 TCN - 336 TCN) cùng biểu tượng 4 vị thần linh được tôn thờ tại đình Hạ Bì Hạ là minh chứng sống động cho quá trình lịch sử hóa thần thoại và thần thánh hóa nhân vật lịch sử trong tâm thức dân gian.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai hệ thống chính: thư tịch cổ Hán Nôm (gồm 1 cuốn ngọc phả 25 trang soạn năm 1572, sao lại năm 1890 và 3 đạo sắc phong các năm 1880, 1887, 1909) cùng nguồn tư liệu điền dã dân tộc học trực tiếp. Tác giả thực hiện khảo sát thực địa với cỡ mẫu 25 người, bao gồm các nghệ nhân cao niên như cụ Thiều Quang Giang (82 tuổi), cụ Thiều Quang Phường (83 tuổi), ban khánh tiết và đại diện chính quyền xã Xuân Lộc.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận trực tiếp những bậc cao niên từng tham gia kỳ hội cổ truyền năm 1953 trước khi lễ hội bị gián đoạn. Luận văn kết hợp các phương pháp liên ngành: phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, phân tích - tổng hợp tư liệu lịch sử và so sánh văn hóa học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính xác thực tuyệt đối khi phục dựng lại cấu trúc 4 ngày hội chính (từ mùng 6 đến mùng 9 tháng Ba âm lịch), đồng thời đánh giá chính xác sự biến đổi văn hóa trong khung thời gian điền dã từ năm 2014 đến tháng 4 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định đình làng Hạ Bì Hạ là một trong những điểm thờ tự hiếm hoi phối thờ Đức vua Hùng thứ 17 (Hùng Nghị Vương), Tản Viên Sơn Tam vị thượng đẳng thần, Phò mã Đô đốc Lý Dực Công và Tiên Cung công chúa. Hệ thống thần tích này khẳng định vị trí chiến lược của vùng tả ngạn sông Đà trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thời Văn Lang.

Thứ hai, nghiên cứu ghi nhận sự phục hồi ngoạn mục của diễn trình lễ hội sau 62 năm gián đoạn (1953 - 2015). Kỳ hội năm Ất Mùi 2015 đã phục dựng thành công 100% các nghi thức cổ truyền trọng đại, nổi bật là nghi lễ rước nước thiêng giữa dòng sông Đà bằng thuyền rồng 12 cặp chèo kéo dài khoảng 30 phút và lễ nghênh rước kiệu công chúa với hơn 1.000 người tham gia.

Thứ ba, công trình kiểm kê và đánh giá chi tiết tình trạng bảo tồn di sản vật thể: ngôi đình được tôn tạo năm 2001 theo kiến trúc chữ Đinh gồm 3 gian 2 dĩ, lưu giữ cỗ ngai thờ thế kỷ 19 cao 1,20m, sập đá thiêng dài 2m rộng 1,5m cùng ngôi đền Tiên Cung công chúa diện tích 26m2 có niên đại hàng trăm năm ven sông.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra sự chuyển biến mạnh mẽ về tính cố kết cộng đồng khi tỷ lệ tham gia của thế hệ trẻ và phụ nữ trong ban tế nữ quan tăng hơn 40% so với trước năm 1945, thu hút sự hưởng ứng của khoảng 2.000 lượt du khách thập phương trong mỗi mùa lễ hội.

Thảo luận kết quả

Sự phục hưng của lễ hội làng Hạ Bì Hạ bắt nguồn từ hai nhân tố cốt lõi: ý thức tự tôn cội nguồn được nâng cao sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2012, kết hợp với nhu cầu sinh hoạt tâm linh nội tại của cộng đồng làng xã. Khi đối chiếu với các mô hình nghiên cứu làng xã Bắc Bộ của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, cấu trúc hội làng Hạ Bì Hạ phản ánh rõ nét sự bình đẳng và tính dân chủ làng xã, nơi mọi mâu thuẫn đời thường được hóa giải trong không gian thiêng liêng.

Dữ liệu biến đổi lễ hội có thể được hệ thống hóa trực quan qua bảng so sánh 3 trục thời gian: giai đoạn trước năm 1953 (duy trì đầy đủ nghi lễ cổ truyền), giai đoạn 1954 - 2014 (chỉ duy trì tế lễ quy mô nhỏ theo dòng họ) và giai đoạn từ năm 2015 đến nay (phục dựng toàn diện nghi lễ rước nước, thi nấu cơm và các trò chơi dân gian). Biểu đồ phân bổ hoạt động cho thấy phần hội hiện chiếm khoảng 60% tổng thời lượng sinh hoạt cộng đồng, trong đó các trò diễn mang tính phồn thực như bắt chạch trong chum (sử dụng 5 chiếc chum nước) đã được linh hoạt thay thế bằng trò bịt mắt bắt vịt để phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp và quy hoạch không gian di tích: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ phê duyệt dự án tu bổ khẩn cấp đền thờ Tiên Cung công chúa trong giai đoạn 2024 - 2026, mở rộng diện tích khuôn viên từ 26m2 lên 150m2 kết hợp kè chắn chống xói lở bờ sông Đà với mục tiêu bảo đảm an toàn 100% cho di tích trong mùa lũ.

Thứ hai, chuẩn hóa và phục hồi toàn diện các trò diễn dân gian: Ban Quản lý di tích làng Hạ Bì Hạ chủ trì phối hợp cùng Hội Người cao tuổi xã Xuân Lộc xây dựng kế hoạch phục dựng nguyên bản 4 trò chơi truyền thống gồm nấu cơm thi niêu đất, kéo co mạn đường - mạn chợ, cờ người và bắt chạch trong chum, hoàn thành tập huấn cho ít nhất 50 thanh niên địa phương trước quý I năm 2025.

Thứ ba, đa dạng hóa và minh bạch nguồn lực tài chính: Ủy ban nhân dân xã Xuân Lộc và Ban khánh tiết thôn Hạ Bì triển khai quy chế xã hội hóa nguồn kinh phí tổ chức lễ hội từ năm 2025, phấn đấu đạt tỷ lệ tự chủ 70% ngân sách thông qua quỹ công đức và tài trợ doanh nghiệp, đồng thời niêm yết công khai các khoản thu chi để tạo niềm tin tuyệt đối trong nhân dân.

Thứ tư, kết nối tuyến điểm du lịch di sản liên vùng: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Phú Thọ xây dựng đề án kết nối đình làng Hạ Bì Hạ vào tuyến du lịch văn hóa tâm linh Đền Hùng - Đền Lăng Sương - Hạ Bì Hạ dọc tuyến đường bộ Quốc lộ 316 dài khoảng 62 km, phấn đấu tăng trưởng 30% lượng khách du lịch trải nghiệm văn hóa ven sông Đà giai đoạn 2025 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu và học giả chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử học, Nhân học văn hóa: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực địa quý giá và bản dịch ngọc phả năm 1572, hỗ trợ đắc lực cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống di tích thời Hùng Vương vùng hạ lưu sông Đà.

Thứ hai, cán bộ quản lý văn hóa thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ cùng Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy: Công trình là căn cứ khoa học trực tiếp để xây dựng hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và hoạch định chính sách bảo tồn lễ hội truyền thống cho 15 xã trong toàn huyện.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học khối khoa học xã hội và nhân văn: Tài liệu đóng vai trò như một nghiên cứu tình huống mẫu mực về phương pháp điền dã dân tộc học, kỹ thuật phân tích diễn trình lễ hội và mô hình phục dựng di sản phi vật thể.

Thứ tư, Ban Quản lý di tích, các bô lão và cộng đồng dân cư xã Xuân Lộc: Luận văn là cuốn cẩm nang hướng dẫn thực hành nghi lễ chuẩn xác, giúp hơn 1.000 hộ dân tại địa phương hiểu rõ ý nghĩa lịch sử, quy trình chuẩn bị đồ tế lễ và các bài văn tế cổ truyền để truyền dạy cho các thế hệ tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất: Hệ thống thần linh được phụng thờ tại cụm di tích đình và đền làng Hạ Bì Hạ gồm những ai? Cụm di tích phụng thờ 4 vị thần linh: Hùng Nghị Vương (Đức vua Hùng thứ 17), Tản Viên Sơn Tam vị thượng đẳng thần, Phò mã Đô đốc Hùng Đoán Hộ Quốc Lý Dực Công (Thành hoàng làng) và Tiên Cung công chúa. Sự phối thờ này tạo nên nét độc đáo gắn kết chặt chẽ giữa hoàng gia thời Hùng Vương với nhân vật anh hùng bản địa.

Thứ hai: Ý nghĩa biểu tượng sâu sắc nhất của nghi lễ rước nước giữa dòng sông Đà là gì? Nghi lễ rước nước lấy từ giữa dòng sông Đà bằng thuyền rồng 12 cặp chèo kéo dài khoảng 30 phút biểu trưng cho tín ngưỡng sùng bái nguồn nước của cư dân nông nghiệp lúa nước. Nước thiêng dùng để bao sái đồ thờ và làm lễ tế, gửi gắm ước nguyện cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu cho dân làng.

Thứ ba: Trò chơi nấu cơm thi tại lễ hội làng Hạ Bì Hạ có điểm gì khác biệt so với các nơi khác? Cuộc thi nấu cơm tái hiện lại tích quân lương khẩn cấp khi Vua Hùng thứ 17 hành quân qua làng. Mỗi đội gồm 4 đến 6 người phối hợp nhịp nhàng, trong đó đôi nam nữ vừa di chuyển gánh niêu đất trên vai vừa châm đuốc đun sôi dưới nhịp trống dồn dập, thể hiện tài khéo léo và tinh thần thượng võ.

Thứ tư: Tại sao lễ hội làng Hạ Bì Hạ bị gián đoạn suốt 62 năm từ 1953 đến 2015? Do ảnh hưởng của chiến tranh khốc liệt, lũ lụt tàn phá công trình di tích cũ và điều kiện kinh tế khó khăn thời kỳ bao cấp, quy mô hội làng bị thu hẹp. Mãi đến năm 2001 đình làng mới được tôn tạo lại và đến năm 2015 lễ hội mới được khôi phục trọn vẹn phần lễ lẫn phần hội.

Thứ năm: Lễ hội làng Hạ Bì Hạ đóng vai trò gì đối với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ? Lễ hội diễn ra từ ngày mùng 6 đến mùng 9 tháng Ba âm lịch, đóng vai trò như một hội vùng mở đầu trang trọng trước ngày Giỗ Tổ Đền Hùng mùng 10 tháng Ba. Đây là mắt xích quan trọng minh chứng cho sự lan tỏa sâu rộng của tín ngưỡng Hùng Vương trong đời sống cộng đồng cư dân ven sông Đà.

Kết luận

  • Công trình của tác giả Bùi Vũ Duy Quang năm 2015 là nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về lễ hội làng Hạ Bì Hạ trong mối tương quan với không gian văn hóa Hùng Vương.
  • Luận văn ghi nhận và phục dựng thành công diễn trình lễ hội cổ truyền sau 62 năm gián đoạn, bảo tồn trọn vẹn 3 đạo sắc phong và bản ngọc phả 25 trang có niên đại từ năm 1572.
  • Làm sáng tỏ giá trị tâm linh, lịch sử và tính cố kết cộng đồng sâu sắc của 4 vị thánh thần được phụng thờ tại 2 công trình di tích đình làng và đền Tiên Cung công chúa.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm hoàn thiện quy hoạch di tích, bảo tồn trò diễn dân gian và kết nối tuyến du lịch tâm linh dài 62 km.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, thúc đẩy công tác giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ trẻ tại 15 xã thuộc huyện Thanh Thủy và tỉnh Phú Thọ.

Trong lộ trình bảo tồn di sản giai đoạn 2025 - 2030, chính quyền và nhân dân địa phương cần khẩn trương số hóa toàn bộ tư liệu Hán Nôm và bố trí nguồn kinh phí khoảng 2 tỷ đồng để trùng tu di tích đền thờ Tiên Cung công chúa. Hãy cùng chung tay gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa độc đáo của lễ hội làng Hạ Bì Hạ - một viên ngọc quý trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam.