Luận văn thạc sĩ Văn hóa học nghiên cứu lễ hội đền Măng Sơn xã Sơn Đông, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội

Nghiên cứu lễ hội đền Măng Sơn xã Sơn Đông thị xã Sơn Tây Hà Nội. Phân tích giá trị văn hóa truyền thống, ý nghĩa lịch sử và tác động xã hội của lễ hội.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn thạc sĩ lễ hội đền Măng Sơn Xứ Đoài

Luận văn thạc sĩ văn hóa học về lễ hội đền Măng Sơn của tác giả Lê Thị Thanh Hoa là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về một trong những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của vùng đất Sơn Tây, Hà Nội. Tài liệu này không chỉ dừng lại ở việc mô tả diễn trình lễ hội mà còn đi sâu phân tích các giá trị lịch sử, văn hóa, và xã hội, đặt trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa làng xã đồng bằng Bắc Bộ. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp điền dã thực tế, kết hợp với việc phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu Hán Nôm, thần tích và các công trình khoa học đi trước. Luận văn khẳng định vị trí trung tâm của tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên, một biểu tượng của bản sắc văn hóa Xứ Đoài, trong đời sống tinh thần cộng đồng người dân xã Sơn Đông. Bằng việc hệ thống hóa các giá trị vật thể và phi vật thể, từ kiến trúc đền Măng Sơn đến các nghi lễ trong lễ hội, công trình này đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và khoa học. Nó không chỉ là nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian mà còn là cơ sở khoa học vững chắc cho các giải pháp bảo tồn và phát huy di sản trong bối cảnh đương đại. Tầm quan trọng của luận văn còn thể hiện ở việc nó mở ra hướng tiếp cận liên ngành, kết nối văn hóa học với du lịch học, đề xuất các giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững, góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết về lễ hội đặc sắc này.

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu văn hóa dân gian tại Sơn Tây

Việc lựa chọn đề tài xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trước những biến đổi văn hóa lễ hội mạnh mẽ. Lễ hội đền Măng Sơn là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, chứa đựng nhiều giá trị độc đáo của vùng bán sơn địa xứ Đoài. Tuy nhiên, các tài liệu trước đây chỉ đề cập một cách tản mạn, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện. Luận văn này ra đời nhằm lấp đầy khoảng trống đó, khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống và góp phần vào hệ thống tư liệu nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam. Đồng thời, nhận thấy tiềm năng kết hợp lễ hội với du lịch, nghiên cứu này còn hướng tới mục tiêu đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả, biến di sản thành động lực phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa khoa học của luận văn về đền Măng Sơn

Mục tiêu chính của luận văn là tìm hiểu, hệ thống hóa và làm rõ các giá trị tiêu biểu của lễ hội đền Măng Sơn. Từ đó, nghiên cứu khẳng định vai trò của lễ hội trong việc củng cố sự đoàn kết cộng đồng và giáo dục truyền thống. Về mặt khoa học, công trình góp phần làm sáng tỏ hình tượng Đức Thánh Tản Viên trong hệ thống tín ngưỡng thờ thần của người Việt, đặc biệt là sự giao thoa với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. Luận văn cũng đề xuất những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi cao nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản, giúp địa phương có định hướng đúng đắn trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa, tránh tình trạng thương mại hóa, làm sai lệch bản chất tốt đẹp của lễ hội truyền thống.

II. Thực trạng lễ hội đền Măng Sơn Thách thức bảo tồn di sản

Luận văn đã dành một chương quan trọng để phân tích thực trạng lễ hội đền Măng Sơn trong bối cảnh xã hội hiện đại, qua đó chỉ ra những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn. Thực trạng này được nhìn nhận trên hai phương diện chính: sự biến đổi văn hóa lễ hội và những bất cập trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Sự phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và tác động của du lịch đã mang lại những thay đổi cả tích cực và tiêu cực. Một mặt, đời sống vật chất được nâng cao giúp người dân có điều kiện tổ chức lễ hội trang trọng hơn. Mặt khác, các yếu tố thương mại hóa, dịch vụ tự phát đang dần len lỏi, có nguy cơ làm phai nhạt tính thiêng và các giá trị cốt lõi. Các nghi lễ trong lễ hội truyền thống có xu hướng bị giản lược hoặc biến tướng, trong khi các trò chơi dân gian, vốn là linh hồn của phần hội, ngày càng ít đi, thay vào đó là các hoạt động giải trí hiện đại thiếu bản sắc. Bên cạnh đó, công tác quản lý di tích và lễ hội còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn lực, nhận thức của một bộ phận cộng đồng chưa đầy đủ. Luận văn nhấn mạnh rằng, nếu không có những giải pháp kịp thời và đồng bộ, nguy cơ mai một di sản văn hóa phi vật thể này là rất lớn, đòi hỏi sự chung tay của cả chính quyền, các nhà khoa học và cộng đồng địa phương.

2.1. Phân tích sự biến đổi văn hóa lễ hội trong đời sống hiện đại

Sự biến đổi thể hiện rõ nét trong cả phần lễ và phần hội. Về phần lễ, một số nghi thức cổ đã được đơn giản hóa để phù hợp với nhịp sống hiện đại, nhưng đôi khi sự giản lược này làm mất đi ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Thực trạng lễ hội cho thấy sự xuất hiện của các yếu tố mê tín dị đoan, thương mại hóa trong hoạt động dâng lễ, cúng bái. Về phần hội, các trò chơi dân gian truyền thống gắn liền với đời sống nông nghiệp (như đấu vật, kéo co) đang dần bị thay thế bởi các dịch vụ giải trí mang tính thương mại. Trang phục lễ hội cũng có sự thay đổi, không còn giữ được nét truyền thống như xưa. Những biến đổi này đặt ra câu hỏi lớn về việc làm thế nào để vừa kế thừa, vừa phát huy bản sắc văn hóa xứ Đoài một cách phù hợp.

2.2. Những khó khăn trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội

Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đối mặt với nhiều thách thức. Luận văn chỉ ra sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp giữa Ban quản lý di tích, chính quyền địa phương và cộng đồng. Nguồn kinh phí cho việc tu bổ di tích và tổ chức lễ hội chủ yếu dựa vào xã hội hóa, chưa có sự đầu tư mang tính chiến lược. Bên cạnh đó, việc quảng bá hình ảnh lễ hội còn hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa tâm linh. Nhận thức của một bộ phận người dân và du khách về việc bảo vệ di sản và giữ gìn không gian lễ hội văn minh vẫn còn hạn chế, dẫn đến các hiện tượng xả rác, chen lấn, làm ảnh hưởng đến tính trang nghiêm của lễ hội.

III. Khám phá giá trị văn hóa truyền thống lễ hội đền Măng Sơn

Trọng tâm của luận văn là giải mã và hệ thống hóa các giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của lễ hội đền Măng Sơn. Đây không chỉ là một sự kiện tín ngưỡng mà còn là một bảo tàng sống động, phản ánh lịch sử, văn hóa và đời sống tinh thần cộng đồng của người dân Sơn Đông. Giá trị nổi bật nhất là giá trị lịch sử, tái hiện lại công lao của Đức Thánh Tản Viên – vị anh hùng trị thủy, dạy dân làm ăn, được coi là đệ nhất phúc thần trong Tứ Bất Tử của người Việt. Lễ hội là dịp để cộng đồng thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Bên cạnh đó, giá trị cố kết cộng đồng được thể hiện rõ nét qua quá trình chuẩn bị và tổ chức lễ hội, từ việc phân công nhiệm vụ, đóng góp công của cho đến việc cùng nhau tham gia vào các đám rước, tế lễ. Mọi khoảng cách xã hội dường như được xóa nhòa, tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn. Luận văn cũng phân tích sâu sắc giá trị nghệ thuật thông qua các nghi lễ trong lễ hội, trang phục, âm nhạc, các sản phẩm thủ công phục vụ tế lễ, và đặc biệt là không gian kiến trúc đền Măng Sơn. Cuối cùng, giá trị giáo dục được nhấn mạnh, khi lễ hội trở thành môi trường để thế hệ trẻ tìm hiểu về cội nguồn, về lịch sử làng xã và học hỏi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của cha ông.

3.1. Vai trò của phần lễ và phần hội trong đời sống tinh thần

Phần lễ và phần hội là hai thành tố không thể tách rời, tạo nên sự hài hòa và trọn vẹn cho lễ hội. Phần lễ, với các nghi thức trang nghiêm như rước kiệu, tế lễ, dâng hương, thể hiện sự kính cẩn của con người với thần linh, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đây là không gian thiêng, giúp con người gột rửa những ưu phiền và hướng về chân - thiện - mỹ. Trong khi đó, phần hội với các trò chơi dân gian, các hoạt động văn nghệ lại là không gian giải tỏa, thể hiện sự lạc quan, yêu đời và khát vọng tự do. Nó giúp tái tạo sức lao động và tăng cường giao lưu, gắn kết các thành viên trong cộng đồng, làm phong phú thêm đời sống tinh thần cộng đồng.

3.2. Tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên Biểu tượng văn hóa Xứ Đoài

Luận văn khẳng định tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên là hạt nhân của lễ hội, là biểu tượng tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Xứ Đoài. Thần tích đền Măng Sơn ghi lại những câu chuyện về công lao của Ngài đối với vùng đất này. Việc thờ phụng Thánh Tản Viên không chỉ là tín ngưỡng thờ một vị anh hùng văn hóa mà còn là sự tôn thờ sức mạnh của cộng đồng trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và bảo vệ non sông. Tín ngưỡng này có sự hòa quyện độc đáo giữa việc thờ nhiên thần (Sơn Tinh) và nhân thần, thể hiện tư duy và thế giới quan của cư dân nông nghiệp, đặc biệt là vùng bán sơn địa nơi có sự giao thoa giữa núi và đồng bằng.

IV. Hướng dẫn bảo tồn phát huy giá trị lễ hội đền Măng Sơn

Từ việc phân tích thực trạng và các giá trị cốt lõi, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm bảo tồn và phát huy di sản một cách bền vững. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc bảo vệ các yếu tố gốc của lễ hội mà còn hướng đến việc làm cho di sản "sống" và thích ứng với đời sống đương đại. Giải pháp hàng đầu được nhấn mạnh là nâng cao nhận thức cộng đồng. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu sâu sắc về giá trị của lễ hội đền Măng Sơn, từ đó hình thành ý thức tự giác tham gia bảo vệ. Luận văn cũng đề xuất việc phục dựng lại một số nghi lễ và trò chơi dân gian truyền thống đang có nguy cơ mai một, tư liệu hóa di sản dưới dạng văn bản, hình ảnh, video để lưu trữ và truyền dạy. Về mặt quản lý, cần xây dựng một quy chế tổ chức lễ hội rõ ràng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Đặc biệt, luận văn nhấn mạnh giải pháp gắn kết việc bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa tâm linh, tạo ra nguồn lực tái đầu tư cho chính công tác bảo tồn, đồng thời quảng bá bản sắc văn hóa Xứ Đoài đến với du khách trong và ngoài nước.

4.1. Giải pháp phục dựng và tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể

Đây là nhóm giải pháp mang tính cấp bách. Luận văn đề nghị cần có sự vào cuộc của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và các nghệ nhân cao tuổi trong làng để ghi chép, phục dựng lại các bài văn tế cổ, các điệu múa, các trò chơi dân gian đặc sắc. Cần thành lập các câu lạc bộ, đội nhóm để thực hành và trao truyền các giá trị này cho thế hệ trẻ. Việc số hóa các tư liệu như thần tích đền Măng Sơn, các hình ảnh, thước phim về lễ hội qua các thời kỳ là vô cùng quan trọng để tạo ra một cơ sở dữ liệu khoa học, phục vụ cho cả công tác nghiên cứu lâu dài và quảng bá, giáo dục di sản.

4.2. Gắn kết lễ hội với phát triển du lịch văn hóa tâm linh bền vững

Để phát huy giá trị, luận văn đề xuất mô hình phát triển du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững. Cần xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, kết nối lễ hội đền Măng Sơn với các di tích lân cận như làng cổ Đường Lâm, chùa Khai Nguyên để tạo thành một tour du lịch hấp dẫn. Hoạt động du lịch phải được tổ chức trên nguyên tắc tôn trọng tính nguyên bản và sự thiêng liêng của di sản. Lợi ích kinh tế từ du lịch cần được tái đầu tư một cách minh bạch cho việc tu bổ di tích, hỗ trợ cộng đồng và nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội, tạo ra một vòng tuần hoàn phát triển tích cực.

14/08/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa học lễ hội đền măng sơn xã sơn đông thị xã sơn tây hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE XA SON DONG NƠI ĐIỆN RA LỄ HỘI ĐÈN MĂNG SƠN 1 KHÁI QUẤT CHUNG VỀ XÃ SƠN ĐÔNG 1.1 Khái quát lịch sử xã Sơn Đông Sơn Đông là một vùng đắt bán sơn địa, thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội Cách thị xã Sơn Tây 6km về phía Nam, phía Bắc giáp xã Trung Sơn Trâm, phía Đông Nam và Nam giáp xã Cổ Đông, phía Tây giáp xã Kim Sơn, phía "Đông Bắc là xã Trạch Mỹ Lộc. Som Đông là một vùng đắt cổ, thuộc Hà Tây cũ cơn người có mặt ở đây tt sớm, “Các nhà khảo cổ học đã nhận xét rằng: “VỀ mặt thời gian, cư dân Vi đã tồn ti ở đầy suốt từ văn hóa Sơn Vì qua bến giai đoạn của văn hóa kế tiếp "Phùng Nguyên - Đông Đậu - Gò Mun — Déng Son” [ 36, tr. Thời Hùng Vương, Hà Tây thuộc đắt Phong Châu, thời thuộc Hán là quận Giao Chỉ. Sử sách cũng vết, trong buổi đầu đắt nước độc ấp t chủ, đây Tà châu (Phong Châu và Quốc Oai dưới uiều Định, Tiền Lê, Lý), lộ (hi Tần), "Tây Đạo (thời Lê).

Năm Quang Thuận thứ 7 gọi là Quốc Oai thừa tuyên, năm. thứ 10 gọi là Sơn Tây thừa uyên. Tên Sơn Tây bắt đầu từ đó (43, r8] Từ đời Hán, địa bàn Sơn Đông ngày nay thuộc quận Giao Chí, Đến đời Trần thuộc đất Ma Lung. Đời Lê, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê “Thánh Tông chia đắt nước làm 12 đạo Thừa Tuyên, vùng đắt này thuộc huyện Ma Nghĩa, su đổi thành Minh Nghĩa, phủ Quảng Osi thuộc Sơn Tây Thi Tuyên [7,tr 181] Đến thời nhà Lê Trung Hưng, con người ở đắt Sơn Đông đã đông đúc, hình thành 12 kẻ: kẻ Cốc, kẻ Gạo, kẻ Siết, kẻ Đầm, kế Bồi, kẻ Mong, kẻ Nội, kẻ Biển, kẻ Lụa, kẻ Ngang, kẻ Lụa, kế Ngưu Day la mit dang so khai của làng xã Việt, 12 kẻ cũng chung một tín ngường: Thờ Tân Viên Sơn thính.

Điều đó như một biễu tượng về tình đoàn kết tạo ra sức mạnh từ cội nguồn, đóng một dẫu ấn khẳng định quá trình phát tein us din du eu 6 din dinh cuving chin ni Ba Vi cia van hod te ngudi ở Sơn Đông ‘Theo sich: Tên làng xã Việt Nam di thé Ký AIX (Thuộc các tỉnh từ Nghệ Tỉnh trở ra) của Viên Hán Nôm xuất bản năm 1981 thi ving dét Som Đông là một xã thuộc tổng Tưởng Phiêu, huyền Thạch Thít, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. ( Tổng Tường Phiêu khi đó gdm 8 xã. Tường Phiêu, Sơn Vì, 'Cung Thuận, Sơn Đông, Triều Đông, Tranh Lộc, Tuy Lộc, Minh Tranh) [S7, 38) ‘én năm 1831, đồi vua Minh Mạng, tắn Sơn Tây đổi thành tính Sơn Tây, xã Sơn Đông và toàn bộ các tổng huyện khác của phũ Quốc Oai thuộc về tính này, Đến năm Tự Đức thứ 7 (1854) đổi tên huyện Minh Nghĩa thành huyện Tùng Thiện thuộc phủ Quảng Oai. Địa bản xã Sơn Đông vẫn thuộc tổng “Tường Phiêu nhưng thuộc về huyện Tùng Thiện, tinh Som Tay (63, t-400 “Cách mạng tháng § năm 1945 (hành cũng, xã Sơn Đông vốn có 2 làng Hà Sơn Trung và Sơn Đông được đổi tên là xã Trung Ngha.

Đến năm 1964, xã Trang Nghĩa lại đổi tên thành xã Sơn Đông. Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Son Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây, xã Sơn Đông thuộc huyện Tùng Thiện, tinh Ha Tây. Từ năm 1968, Sơn Đông thuộc huyện Ba VI, tỉnh Hà Tây. Tháng 6 năm 1976, tỉnh Hà Tây sắp nhập với tỉnh Hoà Bình thành tỉh Hà Sơn Bình nên Sơn Đông thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Sơn Bình.

“Thánh $ nim 1979, huyện Ba Vì chuyển về Hà Nội, xã Sơn Đông thuộc huyện Ba Vì, thành phô Hà Nội. Tháng 7 năm 19§2, Hội đông Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cắt 7 xã của huyện Ba Vi, trong đồ có xã Sơn Đông về thị xã Sơn Tây. Từ đó đến nay địa bản xã Sơn Đông thuộc phạm vi quản lý hành chính của tị xã Sơn Tây “Tháng 10 năm 1991, tính Hà Sơn Bình được tách trở thành hai tỉnh cũ, 6 huyện tị phía Bắc tỉnh tong đồ có thị xã Sơn Tây lại được chuyển về tỉnh Hà “Tây, Đến năm 2008, Hà Tây được sp nhập với Hà Nội, từ đồ cho tới nay, xã “Sơn Đông thuộc tị xã Sơn Tây, thành phổ Hà Nội.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 1. Diéu kiện tự nhiên.

Tắng diện tích tự nhiên của Sơn Đông có gần 3000 ha, trong đó có 2.000 ha dig tích đồi gò, 800 ha đắt mộng tốt nằm rải rác từ chân đổi Ba Vì kéo đài và rồng dẫn theo hướng Đồng tối tân xã Tích Giang. Ngoài ra Sơn Đông còn có khoảng 200a diện tích mặt nước ao hồ, lớn nhất là hỗ Đồng `Mô (được đảo đắp từ năm 1971 đến năm 1973),2] Địa bản Sơn Đông thuộc vùng bán sơnđịa, với những quả đồi thấp có độ nghiêng dần từ chân núi Ba Vì xuống phía Ding Nam của vùng đồng bằng phía nam tỉnh Sơn Tây cũ. “Trên địa bản xã có sông Hang, sông Măng bắt nguồ từ chân núi Ba Vi chảy qua rồi đỗ vào sông Tích. Tờ Sơn Đông có thể đi qua những qủa ồi để đi vào vùng núi Ba Vì và miễn rừng núi thuộc huyện Lương Sơn, Kỷ Sơn, tỉnh Hoà Bình Tiên địa bản xã có con đường giao thông chiến lược 21A từ ngã ba huyện ly Tùng Thiện ngày trước (nay là phường Sơn Lộc), chạy qua địa bản xã Sơn Đông rồi chạy đọc theo vùng bản sơn địa cũa tỉnh Sơn Tây xuống tới Xuân Mai nỗi (heo đường quốc lộ 6, tgp tye di qua Miễn Môn, chợ Bến tới Ninh Bình, Thanh Hoá.

"Ngoài ra còn có con đường giao thông liên huyện từ ngã ba Sơn Đông đi. về hướng đông nam, nỗi tuyến đường quốc lộ TIA nay là đường 32 (Hà Nội Sơn Tây - Trung Hà) ở Ngã tư Gạch nay thuộc huyện Phúc Thọ. Với 2 tuyển đường này, từ Sơn Đông có thể lên thị xã Sơn Tây, Trung Hà hoặc theo đường 87 lên huyện Ba Vì. Và từ Sơn Đông đĩ theo đường liên huyện ra ngã tư Gạch, theo đường quốc lộ 21A đi xuống Xuân Mai, Miều Môn.

1% theo dung 6 én 6 thành phô Hoà Bình, xuống Hà Nội. Neiy nay từ Sơn Dông đĩ Hà Nội còn có Dại lô Thăng Long là cơn dường hiện đạ nỗi từ Hoà Lạc tối Hà Nội Với đa thể như vậy dem lại cho Sơn Đông nhiễu ưu thể về phát tiển kinhtế, du lịch, các loại hình dịch vụ. Khí hậu nhiệt đối gió mủa, nhiệt độ cao nhất từ 38 40°C (tháng 6 đến tháng 7), thấp nhất từ 5 ~ 10°C, lượng mưa trung bình 1.2 Điều iện hình tế xã hội Theo ngọc phả hiện nay đang còn lưu giữ thì Sơn Đông là nơi định cư từ tắt sớm của cộng đồng người Việt cỗ. Qúa trình xây dựng quê hương ở Sơn "Đông, các àng lập ra rất sớm và có quan hệ dòng họ, huy thông gần gửi, gắn bó lâu đời.

Một số t người lập trai phát tiển đt dai ra các đổi xung quanh, vì vây nhân dân que goi là “ngoài tai", “trong làng” để chỉ một số làng mới lập trong thời gian gần đây. Dân số của Sơn Đông tăng theo cơ học. Chỉ trong vòng 60 năm, từ năm 1945 đến năm 2005 dân số đã tăng từ hơn 3000 người lên tới 11.659 người Tính đến năm 2010, tỉnh hình dân số vàlao động ở Sơn Đông như sau Số hộ: 2927 hộ Nhân khẩu: 12.556 người Lao động trong độ tôi: 282 người, chiếm 58% dân số Lao động phân công theo ngành nghề Nông nghiệp 3.276 người (45%); sông nghiệp, tiêu tủ công nghiệp = xây dựng 1.650 người (22,6%); thương "mai, ch vụ, hành chính sự nghiệp 2.4%) [Naud din xã Sơn Đông chủ yếu theo đạo Phật số người theo đạo Thi (Chia tip trung ở hai thôn là Tân An và Đội Vua chiếm khôang 5% dân số của a Dân cư của xã làm ăn sinh sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp, chân nuôi và đánh đã ong [5S, r5] Nghề đánh đá ong cũng là một nghề truyền thống từ hàng trăm năm nay của Sơn Đông, gắn in với quá tình xây đụng quê hương mà biểu hiệ rõ nhất là các định, chùa, đề „ miễu, nhà ở của nhân dân đều xây bằng đá ong, không cắn lớp vữa trát bên ngoài nhưng cảng lâu ngày trồng cảng cứng rắn Trước năm 1945, là xĩ có hơn 2000 ha đất đổi màu mỡ. Nhưng ngay từ cuỗi thể ký XIX đầu thé ky XX, một số diện tích đt bồi ở Sơn Đông ~ Sơn “Trang đã nằm trong tay một số bọn địa chủ đồn điền người Pháp, su đó là "người Việt chiếm ruộng đất để bóc lột nhân dân.

Ở cả bai thôn của xã có hơn 10 hộ địa chủ, chiếm hơn 70% tổng diện ích đất canh ác, toàn xã chỉ côn lại hơn 20% diện tích thuộc về tầng lớp nhân dân lao động, người dân Sơn Đông bi bin cùng hoá. Về mặt xã hội, phần đông con em nhà nghèo không được đi học. Mặc dù từ năm 1915, xã đã mở các lớp tê học nhưng cũng chỉ dành cho son em những nhà khả giả. Do vậy toàn xã có tới hơn 90% dân số mù chữ LĨnh vựcy tế lạ cảng khó khăn.

Dưới chế độ thực dân phong kiến, c xã không 6 ea sở khám chữa bệnh cho người dân. Mọi người ốm đau chủ yêu sử dụng sắc cây thuốc hoặc cúng bái cầu mong vào lộc thánh thần, Phụ nữ khi sinh nở thì bà đỡ dàng lễm hoặc dao nữa để cắt rồn, do vậy tỉnh trạng có sinh mà không có dưỡng thường xuyên xây ra. Tuổi thọ trung bình của ngơi dân rất thấp, nạn mê tn ị đoạn, trọng nam khinh nữ rất nặng Ẻ [56 r 15] Từ su năm 1945 và nhất là ong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới lắt nước, hoạt động kinh tế- xã hội của Sơn Đông ngày cảng phát triển. ~ Về kinh Ế: Xuất phát từ đặc điểm vùng đắt gò đồi, xã xây dựng chiến lược phần đấu theo hướng sản xuất hàng hoá, tập rung đã tự phát triển kinh 1É, đầu tư nguồn vẫn nhằm kiên cổ hoá kênh, mương, đặp Tập huần,tếp thụ kinh nghiệm, khoa học trong sản xuất, kính doanh, mạnh đạn đưa vào các loi giống cây con có gi tr kính tế nên sản lượng lương thực quy thốc ngày cảng tăng.

Giá tị sản xuất 1g nel thủ công nghiệp - xây dựng, doanh thụ thương mại, dịch vụ và bình quân thu nhập đầu người năm sau đều tăng hơn. năm trước Tình hình sản xuắt công nghiệp, tiếu thủ công nghiệp ~ xây dựng và thương mại dịch vụ trên địa bản ôn định và có bước tăng trưởng khá, Các ngành đều phát triển đồng bộ, giá tr sản xuất tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ