CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE XA SON DONG NƠI ĐIỆN RA LỄ HỘI ĐÈN MĂNG SƠN 1 KHÁI QUẤT CHUNG VỀ XÃ SƠN ĐÔNG 1.1 Khái quát lịch sử xã Sơn Đông Sơn Đông là một vùng đắt bán sơn địa, thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội Cách thị xã Sơn Tây 6km về phía Nam, phía Bắc giáp xã Trung Sơn Trâm, phía Đông Nam và Nam giáp xã Cổ Đông, phía Tây giáp xã Kim Sơn, phía "Đông Bắc là xã Trạch Mỹ Lộc. Som Đông là một vùng đắt cổ, thuộc Hà Tây cũ cơn người có mặt ở đây tt sớm, “Các nhà khảo cổ học đã nhận xét rằng: “VỀ mặt thời gian, cư dân Vi đã tồn ti ở đầy suốt từ văn hóa Sơn Vì qua bến giai đoạn của văn hóa kế tiếp "Phùng Nguyên - Đông Đậu - Gò Mun — Déng Son” [ 36, tr. Thời Hùng Vương, Hà Tây thuộc đắt Phong Châu, thời thuộc Hán là quận Giao Chỉ. Sử sách cũng vết, trong buổi đầu đắt nước độc ấp t chủ, đây Tà châu (Phong Châu và Quốc Oai dưới uiều Định, Tiền Lê, Lý), lộ (hi Tần), "Tây Đạo (thời Lê).
Năm Quang Thuận thứ 7 gọi là Quốc Oai thừa tuyên, năm. thứ 10 gọi là Sơn Tây thừa uyên. Tên Sơn Tây bắt đầu từ đó (43, r8] Từ đời Hán, địa bàn Sơn Đông ngày nay thuộc quận Giao Chí, Đến đời Trần thuộc đất Ma Lung. Đời Lê, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê “Thánh Tông chia đắt nước làm 12 đạo Thừa Tuyên, vùng đắt này thuộc huyện Ma Nghĩa, su đổi thành Minh Nghĩa, phủ Quảng Osi thuộc Sơn Tây Thi Tuyên [7,tr 181] Đến thời nhà Lê Trung Hưng, con người ở đắt Sơn Đông đã đông đúc, hình thành 12 kẻ: kẻ Cốc, kẻ Gạo, kẻ Siết, kẻ Đầm, kế Bồi, kẻ Mong, kẻ Nội, kẻ Biển, kẻ Lụa, kẻ Ngang, kẻ Lụa, kế Ngưu Day la mit dang so khai của làng xã Việt, 12 kẻ cũng chung một tín ngường: Thờ Tân Viên Sơn thính.
Điều đó như một biễu tượng về tình đoàn kết tạo ra sức mạnh từ cội nguồn, đóng một dẫu ấn khẳng định quá trình phát tein us din du eu 6 din dinh cuving chin ni Ba Vi cia van hod te ngudi ở Sơn Đông ‘Theo sich: Tên làng xã Việt Nam di thé Ký AIX (Thuộc các tỉnh từ Nghệ Tỉnh trở ra) của Viên Hán Nôm xuất bản năm 1981 thi ving dét Som Đông là một xã thuộc tổng Tưởng Phiêu, huyền Thạch Thít, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. ( Tổng Tường Phiêu khi đó gdm 8 xã. Tường Phiêu, Sơn Vì, 'Cung Thuận, Sơn Đông, Triều Đông, Tranh Lộc, Tuy Lộc, Minh Tranh) [S7, 38) ‘én năm 1831, đồi vua Minh Mạng, tắn Sơn Tây đổi thành tính Sơn Tây, xã Sơn Đông và toàn bộ các tổng huyện khác của phũ Quốc Oai thuộc về tính này, Đến năm Tự Đức thứ 7 (1854) đổi tên huyện Minh Nghĩa thành huyện Tùng Thiện thuộc phủ Quảng Oai. Địa bản xã Sơn Đông vẫn thuộc tổng “Tường Phiêu nhưng thuộc về huyện Tùng Thiện, tinh Som Tay (63, t-400 “Cách mạng tháng § năm 1945 (hành cũng, xã Sơn Đông vốn có 2 làng Hà Sơn Trung và Sơn Đông được đổi tên là xã Trung Ngha.
Đến năm 1964, xã Trang Nghĩa lại đổi tên thành xã Sơn Đông. Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Son Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây, xã Sơn Đông thuộc huyện Tùng Thiện, tinh Ha Tây. Từ năm 1968, Sơn Đông thuộc huyện Ba VI, tỉnh Hà Tây. Tháng 6 năm 1976, tỉnh Hà Tây sắp nhập với tỉnh Hoà Bình thành tỉh Hà Sơn Bình nên Sơn Đông thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Sơn Bình.
“Thánh $ nim 1979, huyện Ba Vì chuyển về Hà Nội, xã Sơn Đông thuộc huyện Ba Vì, thành phô Hà Nội. Tháng 7 năm 19§2, Hội đông Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cắt 7 xã của huyện Ba Vi, trong đồ có xã Sơn Đông về thị xã Sơn Tây. Từ đó đến nay địa bản xã Sơn Đông thuộc phạm vi quản lý hành chính của tị xã Sơn Tây “Tháng 10 năm 1991, tính Hà Sơn Bình được tách trở thành hai tỉnh cũ, 6 huyện tị phía Bắc tỉnh tong đồ có thị xã Sơn Tây lại được chuyển về tỉnh Hà “Tây, Đến năm 2008, Hà Tây được sp nhập với Hà Nội, từ đồ cho tới nay, xã “Sơn Đông thuộc tị xã Sơn Tây, thành phổ Hà Nội.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 1. Diéu kiện tự nhiên.
Tắng diện tích tự nhiên của Sơn Đông có gần 3000 ha, trong đó có 2.000 ha dig tích đồi gò, 800 ha đắt mộng tốt nằm rải rác từ chân đổi Ba Vì kéo đài và rồng dẫn theo hướng Đồng tối tân xã Tích Giang. Ngoài ra Sơn Đông còn có khoảng 200a diện tích mặt nước ao hồ, lớn nhất là hỗ Đồng `Mô (được đảo đắp từ năm 1971 đến năm 1973),2] Địa bản Sơn Đông thuộc vùng bán sơnđịa, với những quả đồi thấp có độ nghiêng dần từ chân núi Ba Vì xuống phía Ding Nam của vùng đồng bằng phía nam tỉnh Sơn Tây cũ. “Trên địa bản xã có sông Hang, sông Măng bắt nguồ từ chân núi Ba Vi chảy qua rồi đỗ vào sông Tích. Tờ Sơn Đông có thể đi qua những qủa ồi để đi vào vùng núi Ba Vì và miễn rừng núi thuộc huyện Lương Sơn, Kỷ Sơn, tỉnh Hoà Bình Tiên địa bản xã có con đường giao thông chiến lược 21A từ ngã ba huyện ly Tùng Thiện ngày trước (nay là phường Sơn Lộc), chạy qua địa bản xã Sơn Đông rồi chạy đọc theo vùng bản sơn địa cũa tỉnh Sơn Tây xuống tới Xuân Mai nỗi (heo đường quốc lộ 6, tgp tye di qua Miễn Môn, chợ Bến tới Ninh Bình, Thanh Hoá.
"Ngoài ra còn có con đường giao thông liên huyện từ ngã ba Sơn Đông đi. về hướng đông nam, nỗi tuyến đường quốc lộ TIA nay là đường 32 (Hà Nội Sơn Tây - Trung Hà) ở Ngã tư Gạch nay thuộc huyện Phúc Thọ. Với 2 tuyển đường này, từ Sơn Đông có thể lên thị xã Sơn Tây, Trung Hà hoặc theo đường 87 lên huyện Ba Vì. Và từ Sơn Đông đĩ theo đường liên huyện ra ngã tư Gạch, theo đường quốc lộ 21A đi xuống Xuân Mai, Miều Môn.
1% theo dung 6 én 6 thành phô Hoà Bình, xuống Hà Nội. Neiy nay từ Sơn Dông đĩ Hà Nội còn có Dại lô Thăng Long là cơn dường hiện đạ nỗi từ Hoà Lạc tối Hà Nội Với đa thể như vậy dem lại cho Sơn Đông nhiễu ưu thể về phát tiển kinhtế, du lịch, các loại hình dịch vụ. Khí hậu nhiệt đối gió mủa, nhiệt độ cao nhất từ 38 40°C (tháng 6 đến tháng 7), thấp nhất từ 5 ~ 10°C, lượng mưa trung bình 1.2 Điều iện hình tế xã hội Theo ngọc phả hiện nay đang còn lưu giữ thì Sơn Đông là nơi định cư từ tắt sớm của cộng đồng người Việt cỗ. Qúa trình xây dựng quê hương ở Sơn "Đông, các àng lập ra rất sớm và có quan hệ dòng họ, huy thông gần gửi, gắn bó lâu đời.
Một số t người lập trai phát tiển đt dai ra các đổi xung quanh, vì vây nhân dân que goi là “ngoài tai", “trong làng” để chỉ một số làng mới lập trong thời gian gần đây. Dân số của Sơn Đông tăng theo cơ học. Chỉ trong vòng 60 năm, từ năm 1945 đến năm 2005 dân số đã tăng từ hơn 3000 người lên tới 11.659 người Tính đến năm 2010, tỉnh hình dân số vàlao động ở Sơn Đông như sau Số hộ: 2927 hộ Nhân khẩu: 12.556 người Lao động trong độ tôi: 282 người, chiếm 58% dân số Lao động phân công theo ngành nghề Nông nghiệp 3.276 người (45%); sông nghiệp, tiêu tủ công nghiệp = xây dựng 1.650 người (22,6%); thương "mai, ch vụ, hành chính sự nghiệp 2.4%) [Naud din xã Sơn Đông chủ yếu theo đạo Phật số người theo đạo Thi (Chia tip trung ở hai thôn là Tân An và Đội Vua chiếm khôang 5% dân số của a Dân cư của xã làm ăn sinh sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp, chân nuôi và đánh đã ong [5S, r5] Nghề đánh đá ong cũng là một nghề truyền thống từ hàng trăm năm nay của Sơn Đông, gắn in với quá tình xây đụng quê hương mà biểu hiệ rõ nhất là các định, chùa, đề „ miễu, nhà ở của nhân dân đều xây bằng đá ong, không cắn lớp vữa trát bên ngoài nhưng cảng lâu ngày trồng cảng cứng rắn Trước năm 1945, là xĩ có hơn 2000 ha đất đổi màu mỡ. Nhưng ngay từ cuỗi thể ký XIX đầu thé ky XX, một số diện tích đt bồi ở Sơn Đông ~ Sơn “Trang đã nằm trong tay một số bọn địa chủ đồn điền người Pháp, su đó là "người Việt chiếm ruộng đất để bóc lột nhân dân.
Ở cả bai thôn của xã có hơn 10 hộ địa chủ, chiếm hơn 70% tổng diện ích đất canh ác, toàn xã chỉ côn lại hơn 20% diện tích thuộc về tầng lớp nhân dân lao động, người dân Sơn Đông bi bin cùng hoá. Về mặt xã hội, phần đông con em nhà nghèo không được đi học. Mặc dù từ năm 1915, xã đã mở các lớp tê học nhưng cũng chỉ dành cho son em những nhà khả giả. Do vậy toàn xã có tới hơn 90% dân số mù chữ LĨnh vựcy tế lạ cảng khó khăn.
Dưới chế độ thực dân phong kiến, c xã không 6 ea sở khám chữa bệnh cho người dân. Mọi người ốm đau chủ yêu sử dụng sắc cây thuốc hoặc cúng bái cầu mong vào lộc thánh thần, Phụ nữ khi sinh nở thì bà đỡ dàng lễm hoặc dao nữa để cắt rồn, do vậy tỉnh trạng có sinh mà không có dưỡng thường xuyên xây ra. Tuổi thọ trung bình của ngơi dân rất thấp, nạn mê tn ị đoạn, trọng nam khinh nữ rất nặng Ẻ [56 r 15] Từ su năm 1945 và nhất là ong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới lắt nước, hoạt động kinh tế- xã hội của Sơn Đông ngày cảng phát triển. ~ Về kinh Ế: Xuất phát từ đặc điểm vùng đắt gò đồi, xã xây dựng chiến lược phần đấu theo hướng sản xuất hàng hoá, tập rung đã tự phát triển kinh 1É, đầu tư nguồn vẫn nhằm kiên cổ hoá kênh, mương, đặp Tập huần,tếp thụ kinh nghiệm, khoa học trong sản xuất, kính doanh, mạnh đạn đưa vào các loi giống cây con có gi tr kính tế nên sản lượng lương thực quy thốc ngày cảng tăng.
Giá tị sản xuất 1g nel thủ công nghiệp - xây dựng, doanh thụ thương mại, dịch vụ và bình quân thu nhập đầu người năm sau đều tăng hơn. năm trước Tình hình sản xuắt công nghiệp, tiếu thủ công nghiệp ~ xây dựng và thương mại dịch vụ trên địa bản ôn định và có bước tăng trưởng khá, Các ngành đều phát triển đồng bộ, giá tr sản xuất tăng.