mở đầu cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân các dân tộc ở địa phương đã tích cực vừa kháng chiến, vừa kiến quốc góp phần vào cuộc kháng chiến chống Pháp thành công. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần “hóe không thiếu một cân, quân không thiếu một người nhân dân xã Đông Cuông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ hậu phương với tiền tuyến, góp phần cùng cả nước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Truyền thống đoàn kết, yêu nước, anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm của đồng bảo các dân tộc xã Đông Cuông là giá trị tỉnh thẳn to lớn, là nguồn sức mạnh từ nội lực, trở thành sức mạnh và động lực thúc đây Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong Huyện vững bước trên con đường đi tới ấm no, hạnh phúc và chủ nghĩa xã hội 1. Dân cư và đời sống văn hóa ~ xã hội Dan cw Xã Đông Cuông hiện có 15 thôn bản là: Cầu Khai, Khe Cham, Cau Co, Bến Đền, Sài Lương, Gốc Quân, Sân Bay, Đông Hà, Đồng Tâm, Đồng Dẹt, Đồng Chém, Thác Cái, Trung Tâm, Gốc Đa, Sặt Ngọt.
Theo số liệu thống kê năm 1999 dân số toàn xã là 6409 người, mật độ trung bình là 301 người/ km2, với các đân tộc anh em như sau: Kinh, Dao, Tay. Trong đó người Kinh chiếm 62,5%, người Tày chiếm 33,5%, người Dao chiếm 4%. Người Kinh ở Đông Cuông chủ yếu là do chuyển cư từ các tỉnh đồng bằng và trung du như: Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Phú Thọ.từ đầu thế kỷ XX đến nay. Người Kinh sống tập trung ở các vùng thấp.
17 thung lũng, dọc các đồng bằng hẹp ven sông Hồng và ở các thị trấn, thị tứ có đường giao thông thuận tiện. Họ làm nghề nông, khai thác gỗ, buôn bán, thợ thủ công hoặc công nhân, viên chức, công chức các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Người Tày là cư dân bản địa có mặt ở đây sớm nhất gắn với quá trình mỡ đất nhiều ngàn năm nay, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, Thành Hoàng làng và cả đặc trưng văn hóa địa phương. Sản xuất nông nghiệp khá phát triển, bao gồm trồng trọt như lúa, ngô, đậu, làm thủy lợi và phối hợp sử dụng các loại phân bón.
Họ giỏi làm nương đồi, tràn bãi, nương ven rừng và làm vườn. Các gia đình thông thạo việc thu hái lâm sản. Các nghề thủ công truyền thống như đan lát, làm đồ gỗ, ép và trưng cắt tỉnh dẫu, dệt vai nudi tim khá phát triển. Người Tày cũng rất giỏi trong việc kinh doanh và trao đổi hàng hóa.
Người Dao ở Đông Cuông chủ yếu có một nhóm Dao Quản Trắng, tập chung chủ yếu ở thôn Sặt Ngọt. Họ sống trên những ngôi nhà sản, tạo thành bản riêng biệt của công đồng, tương đối dày đặc, giao thông đi lại còn khó khăn. Nguồn sống chính của người Dao ở Đông Cuông là trồng lúa nước là chủ yếu, một số ít có nương đồi và đánh bắt thủy sản trên sông Hồng. năm gần đây, người Dao ở xã Đông Cuông còn phát triển chăn nuôi bò, lợn, gà.
Ngoài ra, còn phát triển trồng cây lâm nghiệp và cây đặc sản đặc biệt là cây quế. Ở đây còn có các nghề thủ công như đan lát, rèn đúc, nghề dệt nhưng. những nghề này chỉ chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cấp tự túc của các gia đình. Nhân dân các dân tộc ở Đông Cuông ngày nay Kinh, Tày, Dao.
sinh sống thành cộng đồng làng bản với tỉnh thần đoàn kết, lao động cần cù sáng tạo và truyền thống yêu nước nồng nàn đã lập lên nhiều chiến công vẻ vang, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của dân tộc và sự nghiệp xây dung và bảo vệ quê hương, đất nước giàu đẹp. 18 Đời sống văn hóa ~ xã hội Với bề dây lịch sử vùng đất, trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc, Đông Cuông là nơi sinh sống, quần tụ bao đời nay của nhiều cộng, đồng dân tộc. Là miền đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, đoàn kết, yêu nước, anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm của đồng bảo các dân tộc xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Thời phong kiến tuy khoảng cách vẻ điều kiện địa lý còn khó khăn (vùng, biên viễn) nhưng đã được các triều đình phong kiến đặc biệt quan tâm. Thời Lý - Trần triều đình đã cho xây dựng các điểm có vị trí quan trọng trong phòng thủ chống giặc ngoại xâm phương Bắc, sự phát triển của Phật giáo đặt dấu ấn trong các công trình kiến trúc địa phương.
Phong tướng cho các tủ trưởng, cử người từ triể ình lên cai quản vùng đắt. Thời Lê, triều đình đã ban sắc ghỉ nhớ công ơn các vị thần có công bảo vệ đất nước, cho phép con cháu thờ cúng. Chế độ thi cử cũng đã được triều đình quan tâm, nhiều người đỗ đạt. Trong quá trình lao động sáng tạo, những người dân nơi đây đã đẻ lại nhiều dấu tích vật chất và tỉnh thần trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, đời sống xã hội của nhân dân ngày càng được nâng cao, thực hiện những bước đi vững chắc tập trung nâng cao xây dựng cơ sở vất chất huy. động mọi nguồn lực xã hội. Giáo dục đặc biệt được quan tâm, xem đây là nhiệm vụ quan trọng đã được toàn thể các ngành các cấp và nhân dân quan tâm với quy mô trường lớp từ bậc mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Con em đồng bào được đến trường đi học, ngày càng có nhiều học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng.
Trạm y tế được xây dựng, cơ sở vật chất của trạm luôn được đảm bảo, đồng thời làm tốt công tác vệ sinh môi trường. Xây dựng làng văn hóa, nhà văn hóa, công tác thông tin tuyên truyền đã góp phần tích cực phục vụ đời sống tinh thần nhân dân các dân tộc. Phát huy truyền thống đoàn kết cùng. nhau góp phần đầy lùi tệ nạn xã hội xây dựng đời sống khu dân cư, xã, bản 19 thôn văn hóa.
Tạo một diện mạo mới trong công tác thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, giừ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội truyền thống được tô chức. Trong sự nghiêp xây dựng và bảo vệ quê hương, 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các. dân tộc ở Đông Cuông đã ra sức phắn đấu đạt được những thành tích đáng nghi nhận, kinh tế phát triển, chính trị ôn định, xây dựng Đảng và hệ thống.
chính trị được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tiền tới xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước theo nghị quyết hội nghị lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: “Xây dựng nên văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thắm nhuằn tỉnh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nên tảng tỉnh thân vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Văn hóa truyền thống người Tày Khao ở Đông Cuông, huyện Văn Yên, tĩnh Yên Bái 1.
Lịch sử dân cự của người Tày Khao ở Đông Cuông Khảo cứu ở những địa phương của tỉnh Yên Bái có người Tây sinh sống thì cộng đồng tộc người ở đây có nguồn gốc khác nhau, có thê là người Tày cỗ trước đây còn gọi là người Thô (cư dân bản địa đã sinh sống từ lâu đời), có thê 1a Tay lưu quan (từ nơi khác đến làm quan và ở lại), cũng có thể là người Kinh từ miền xuôi lên, người Hoa Vân Nam từ Trung Quốc sang, hay di cư từ các tỉnh như Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang và Cao Bằng sang. 20 Ở xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái chỉ có nhóm Tay Khao là cư dân bản địa, người khai hóa và mở đất đầu tiên. Họ sống tập trung thành các dòng họ lớn truyền thống gắn với lịch sử vùng đất. Các gia đình người Tây Khao sống trên những ngôi nhà sản, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với hai loại hình: lúa nương và lúa nước.
Trong đi úa nước chiếm tỷ lệ cao. Ngoài ra đồng bào còn trồng một số loại cây hoa màu như ngô, sắn, Rau của người Tày các loại như bầu, bí, mướp đắng, các loại ho dau, khoai, củ từ, đưa gang. Đặc biệt người Tày Khao ở Đông Cuông hiện nay phát triển mạnh 2 loại cây công nghiệp là cây quế và cây chè. Ngoài cây lúa, hoa màu, quế, chè đồng bào còn có thu nhập thêm từ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà.
Người Tày Khao có các nghề thủ công truyền thống phong phú, đa dạng và phát triển rất sớm, trong đó nôi bật là dệt vải, nhuộm chăn, làm giấy gid, in và thêu hoa văn trên vải, đan lát các đồ đựng bằng tre, nứa, giang, mây song, nghề rèn. Nghề rèn của đồng bảo Tay cũng phát triển, chủ yếu là các công cụ như: dao, cuốc, cào cỏ, lưỡi cày. Nghề làm đồ trang sức bằng bạc và đồ đồng làm thành vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, xà tích, vật trang trí, đồ thờ cúng. Đặc điểm về văn hóa vật chất của người Tày Khao ở Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Nhà ở Nhà sản là kiểu nhà truyền thống của nhiều cộng đồng tộc người ở Tây Bắc nói chung.
Tuy cùng chung một nguồn gốc ra đời nhưng mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những sáng tạo riêng cho kiến trúc ngôi nhà sàn của mình, phù hợp với phong tục tập quán và nét sinh hoạt của từng tộc người. Ở Yên Bái- nơi có tới 30 dân tộc cùng sinh sống nên cũng có rất nhiều kiểu kiến trúc nhà sản khác nhau, tạo nên những sắc thái văn hóa đa dạng và phong phú. Nhà sản của người Tày Khao ở Đông Cuông là một không gian văn hóa rất đặc biệt. Là cư dân nông nghiệp, họ thường sống sống tập trung theo thôn 21 bản, hướng các thôn bản đều quay ra cánh đồng, sông, suối và dựa lưng vào.
Nhà thường được làm ba gian, cách chắp nối các cấu kiện bằng nguyên liệu rồi.