Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 2.000 năm lịch sử kể từ thế kỷ III trước Công nguyên, quần thể di tích Cổ Loa với 3 vòng thành đất có tổng chiều dài nguyên bản 15,4 km là biểu tượng tiêu biểu cho thời kỳ định đô Âu Lạc dưới triều vua An Dương Vương. Lễ hội Cổ Loa diễn ra vào ngày mùng 6 tháng Giêng hằng năm vốn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, trao truyền văn hóa và củng cố khối đoàn kết cộng đồng của cư dân châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên, trước tác động sâu rộng của tiến trình đô thị hóa tại huyện Đông Anh cùng những biến chuyển kinh tế - xã hội đương đại, cấu trúc lễ hội và không gian cảnh quan di tích đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, phân tích toàn diện quá trình chuyển biến từ lễ hội truyền thống sang lễ hội đương đại, làm rõ sự thay đổi giữa các yếu tố cấu thành nghi lễ và chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng giải thiêng hóa không gian di sản. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phục dựng bức tranh văn hóa làng Cổ Loa cổ truyền, giải mã các giá trị biểu tượng qua hệ thống thần tích và thực hành nghi lễ, khảo sát thực trạng xâm hại di tích, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp bảo tồn khoa học.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại xã Cổ Loa cùng vùng phụ cận với mạng lưới Bát xã hộ nhi trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010, gắn liền với đề án quy hoạch 484 ha phục vụ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về mức độ biến đổi di sản, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách bảo tồn không gian thiêng và định hình mô hình phát triển du lịch văn hóa bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu trúc lễ hội của học giả Beverly J. Stoeltje, tiếp cận lễ hội thông qua hai trục phân tích cốt lõi: cấu trúc sự kiện và cấu trúc thành phần tham dự. Khung lý thuyết này giúp làm sáng tỏ cơ chế cộng đồng tái cấu trúc các biểu đạt xã hội khi môi trường sống biến chuyển. Bên cạnh đó, luận văn khai thác lý thuyết hành động xã hội của nhà xã hội học Max Weber để luận giải sự chuyển dịch từ hành động duy lý truyền thống giàu tính tâm linh sang hành động duy lý mục đích mang tính thế tục của người tham dự hội.

Đồng thời, công trình ứng dụng lý thuyết 5 giá trị cơ bản của lễ hội cổ truyền do Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh xác lập, gồm: giá trị cộng đồng, giá trị hướng về cội nguồn, giá trị cân bằng tâm linh, giá trị sáng tạo - hưởng thụ văn hóa và giá trị bảo tồn bản sắc. Các khái niệm chuyên ngành then chốt được thao tác hóa trong nghiên cứu bao gồm: tục kiêng hèm và cấm kỵ (taboo), không gian thiêng (sacred space), giải thiêng hóa (desacralization), và tính nguyên hợp của văn hóa dân gian.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn tư liệu thành văn và khảo sát điền dã dân tộc học thực địa. Về tư liệu văn bản, tác giả khai thác hệ thống 24 đạo sắc phong thần từ thời Lê Cảnh Hưng năm 1767 đến triều Nguyễn Khải Định năm 1924 được lưu giữ tại đình Cầu Cả (15 đạo sắc phong) và đình Mạch Tràng (9 đạo sắc phong), kết hợp đối chiếu các thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh và Thủy kinh chú.

Về dữ liệu điền dã, tác giả thực hiện phương pháp quan sát tham dự trực tiếp tại 5 thôn làng cổ thuộc xã Cổ Loa (Cổ Loa, Cầu Cả, Mạch Tràng, Thư Cưu, Sằn Giã) cùng các làng kết nghĩa liên kết. Mẫu khảo sát định tính bao gồm 30 cuộc phỏng vấn sâu với các bô lão, nghệ nhân dân gian nắm giữ kỹ thuật hát ống, đại diện phường tuồng và đoàn 12 cụ làng Quậy. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận các chủ thể nắm giữ tri thức bản địa sâu sắc nhất. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Văn hóa học, Khảo cổ học và Xã hội học văn hóa nhằm đối sánh lịch đại và đồng đại, bảo đảm tính khách quan khi đo lường các chiều kích biến đổi trong tiến trình nghiên cứu kéo dài từ năm 1996 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chỉ ra sự suy thoái nghiêm trọng về cơ sở vật chất và cảnh quan di tích. Tổng chiều dài 3 vòng thành đất cổ đã sụt giảm 23,4%, từ 15,4 km xuống còn 11,8 km do sạt lở tự nhiên và hoạt động xây dựng dân sinh. Hiện có hơn 1.000 hộ dân đang cư trú ven các vòng thành, trong đó gần 400 hộ xây cất nhà kiên cố 2 đến 3 tầng trực tiếp trên mặt thân thành, cùng hàng chục nghìn mét vuông hào nước cổ bị san lấp làm sân bãi dịch vụ.

Thứ hai, thời gian và nghi thức lễ hội bị nén chặt tối đa. Lễ hội Cổ Loa truyền thống kéo dài từ ngày mùng 6 đến ngày 18 tháng Giêng (khoảng 13 ngày) nay bị thu gọn tuyệt đối chỉ trong duy nhất 1 ngày (ngày mùng 6 tháng Giêng), khiến nhiều bước tế lễ, rước kiệu cổ truyền bị giản lược hoặc chuyển hóa thành kịch bản hành chính.

Thứ ba, các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo bị mai một. Hình thức hát ống giao duyên sử dụng ống nứa nối dây gai dài 200m bịt da ếch và các vở tuồng cổ truyền thống (như tích Phạm Công - Cúc Hoa, Mộc Quế Anh) đã biến mất 100% trong chương trình hội chính, thay thế bằng hoạt động hát quan họ thuê khoán ban ngày mang tính thương mại.

Thứ tư, các trò chơi dân gian mang tính biểu tượng lịch sử như thi bắn nỏ, thi làm bỏng Chủ bị suy giảm sức hút trước sự xuất hiện của các trò chơi điện tử và trò chơi may rủi thu tiền.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới những biến đổi trên xuất phát từ áp lực quy hoạch đô thị hóa huyện Đông Anh với diện tích 11.562 ha và quy mô dân số dự kiến đạt 764.000 đến 769.000 người, tạo nên áp lực biến đổi đất đai và phá vỡ cấu trúc làng nông nghiệp truyền thống. Về mặt tâm thức, người dân hiện đại chuyển dần từ lòng tôn kính tuyệt đối đối với thành hoàng làng sang thái độ tưởng niệm lịch sử thuần túy theo xu hướng "kính nhi viễn chi".

So với các lễ hội tín ngưỡng nặng về cầu tài lộc và giải tỏa tâm linh cá nhân như Đền Bà Chúa Kho hay Phủ Dầy, lễ hội Cổ Loa mang tính chất tưởng niệm anh hùng dựng nước nên khi bị kịch bản hóa hành chính đã làm phôi pha tính linh thiêng tự nhiên và động cơ tâm linh của cộng đồng. Toàn bộ cấu trúc biến đổi này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh tỷ lệ 23,4% lũy thành bị biến mất và bảng ma trận đối sánh 5 tiêu chí: thời gian, chủ thể, không gian thiêng, nghi thức và diễn xướng giữa hai giai đoạn truyền thống và hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, quy hoạch hoàn nguyên và bảo vệ nghiêm ngặt không gian lõi di tích. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ban Quản lý Di tích và Danh thắng cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án quy hoạch 484 ha, tiến hành giải tỏa và tái định cư gần 400 hộ dân xây dựng trái phép trên mặt thành, đồng thời tu bổ, phục hồi 3.200m bờ hào và 8 cổng thành cổ trong giai đoạn 2010 đến 2025.

Hai là, phục dựng và thể chế hóa các không gian diễn xướng cổ truyền. Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội cần phối hợp cùng các câu lạc bộ văn nghệ dân gian địa phương tái lập định kỳ không gian hát ống và các vở tuồng cổ vào mỗi dịp hội xuân; duy trì 100% các hội thi bắn nỏ, thi làm bỏng Chủ truyền thống, thu hút tối thiểu 500 đoàn viên thanh niên tham gia mỗi năm trước năm 2020.

Ba là, trao quyền tự quản lễ hội cho cộng đồng cư dân bản địa. Chính quyền xã Cổ Loa cần từng bước chuyển giao vai trò điều hành lễ hội từ Ban tổ chức hành chính sang Hội đồng bô lão Bát xã hộ nhi và đoàn 12 cụ làng Quậy nhằm phục hồi tính tự nguyện, giảm bớt sự can thiệp của các kịch bản sân khấu hóa, hoàn thành lộ trình trước năm 2015.

Bốn là, phát triển mô hình du lịch di sản gắn với sinh kế người dân. Sở Du lịch Hà Nội cần phối hợp nâng cấp tuyến xe buýt số 46 kết nối trung tâm thành phố về Cổ Loa, quy hoạch đồng bộ khu vực ẩm thực và làng nghề truyền thống, tạo việc làm dịch vụ cho hơn 1.000 hộ dân bản địa nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng doanh thu du lịch địa phương từ 15% đến 20% mỗi năm đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu Văn hóa học, Nhân học và Xã hội học: Luận văn cung cấp khung lý thuyết cấu trúc lễ hội chuẩn mực và hệ thống tư liệu điền dã thực chứng về quá trình biến đổi văn hóa làng ven đô trong bối cảnh đô thị hóa.

Thứ hai, cán bộ quản lý di sản và chuyên viên quy hoạch đô thị: Luận văn là cơ sở tham chiếu thực tiễn để giải quyết bài toán xung đột giữa phát triển kinh tế vùng đô thị 11.562 ha và nhiệm vụ khoanh vùng bảo vệ 484 ha di tích lịch sử cấp quốc gia.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Công trình là tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu liên ngành, cung cấp danh mục khảo cứu chi tiết 24 đạo sắc phong Hán Nôm và hệ thống truyền thuyết dân gian quanh di tích Cổ Loa.

Thứ tư, các tổ chức phát triển du lịch và doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp góc nhìn thực tiễn để xây dựng các tour du lịch trải nghiệm lịch sử Âu Lạc, tích hợp các giá trị văn hóa độc bản như ẩm thực bỏng Chủ và nghệ thuật hát ống vào chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt lớn nhất về thời gian tổ chức giữa lễ hội Cổ Loa truyền thống và hiện đại là gì? Trong truyền thống, lễ hội kéo dài liên tục 13 ngày từ mùng 6 đến 18 tháng Giêng (năm mất mùa kết thúc vào ngày 12), trong khi lễ hội hiện đại chỉ diễn ra trọn vẹn trong đúng 1 ngày mùng 6 tháng Giêng để phù hợp với nhịp sống và thời gian biểu công nghiệp.

  2. Nguyên nhân chính khiến chiều dài lũy thành Cổ Loa sụt giảm từ 15,4 km xuống 11,8 km là gì? Sự suy giảm 23,4% chiều dài thành xuất phát từ việc san lấp làm đường giao thông từ những năm 1940 cùng áp lực gia tăng dân số, khiến hơn 1.000 hộ dân lấn chiếm ven chân thành và gần 400 hộ xây dựng nhà ở kiên cố trực tiếp trên mặt thành.

  3. Đoàn 12 bô lão làng Quậy giữ vai trò đặc biệt như thế nào trong ngày mở hội Cổ Loa? Đoàn 12 cụ làng Quậy đại diện cho cộng đồng cư dân thiên di năm xưa được vinh dự làm lễ tế đầu tiên và đọc bài mật khẩn thiêng liêng có lịch sử hơn 2.000 năm trước anh linh vua An Dương Vương, minh chứng cho mối quan hệ kết nghĩa keo sơn giữa hai vùng đất.

  4. Hai hội thi dân gian độc đáo nào gắn liền trực tiếp với lịch sử thời kỳ Âu Lạc tại lễ hội Cổ Loa? Đó là hội thi bắn nỏ tái hiện sức mạnh quân sự gắn với truyền thuyết nỏ thần và hội thi làm bỏng Chủ - sản phẩm ẩm thực độc nhất vô nhị được chế biến theo kỹ thuật phối trộn mật truyền thống của cư dân Cổ Loa.

  5. Vì sao lễ hội Cổ Loa hiện đại lại suy giảm sức hút tâm linh so với các lễ hội dân gian khác? Bởi vì Cổ Loa là lễ hội tưởng niệm mang tính chất tri ân công đức tiền nhân chứ không mang nặng yếu tố ban phát tài lộc như Đền Bà Chúa Kho, kết hợp với việc hành chính hóa nghi lễ đã làm giảm bớt tính thiêng liêng vốn có.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, khảo cổ và văn hóa của vùng đất kinh đô Âu Lạc với cấu trúc 3 vòng thành đất độc đáo.
  • Phân tích sâu sắc sự biến đổi của lễ hội qua hai trục cấu trúc sự kiện và cấu trúc thành phần tham dự dưới sức ép của tiến trình đô thị hóa.
  • Lượng hóa chính xác mức độ tổn hại di tích khi chiều dài lũy thành sụt giảm 23,4% và ghi nhận sự mai một của các loại hình diễn xướng đặc sắc như hát ống, tuồng cổ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi kết hợp giữa bảo tồn không gian di sản 484 ha, trao quyền tự quản cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn to lớn trong lộ trình quản lý, bảo vệ di sản văn hóa dân tộc hướng tới các mốc quy hoạch chiến lược đến năm 2030.

Luận văn là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác bảo tồn di sản văn hóa truyền thống. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm có thể tiếp cận trọn vẹn văn bản luận văn để tìm hiểu sâu hơn về những giá trị văn hóa nghìn năm của vùng đất Cổ Loa lịch sử.