Chương I: Văn hoá làng Cổ Loa Chương II: Lễ hội Cổ Loa truyền thống Chương III: Lê hội Cổ Loa trong đời sống xã hội hiện Cổ Loa nằm ở phần “thượng đỉnh”, trên trục chính của tam giác châu thổ sông Hồng (cách đỉnh Việt Trì khoảng 35 km theo đường chỉm bay, cách biển 65 km). Đó là vùng chuyển tiếp từ trung du xuống đồng bằng, là khu ông Hồngtiếp nhận các phụ lưu lớn của nó là song Lô, sông Đà. Theo các 7 lý, tam gi u sông Hồng chia làm 3 vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp. Cổ Loa nằm trong vùng đất cao phía Tây của tam giác này.
Mặc dù nằm ở giữa vùng đất cao của tam. # ác châu thổ sông Hồng nhưng Cổ Loa rất thuận lợi vẻ đường thuỷ tự nhiên. 'Xã nằm giữa sông Cà Lồ và sông Đuống. Phía Đông và phía Bắc của xã được ngăn bởi cùng một đầm lầy tự nhiên mà xưa kia là những dải rừng cây hoang đại.
Phía nam có sông Thiếp (hay sông Hoàng Giang) bao bọc. Song này nối Cổ Loa với vùng trung du và đồng bằng lân cận. Cổ Loa còn thuận tiện về giao thông đường bộ. Xã có quốc lộ số 3 (Hà Nội -Thái Nguyên) chạy qua, xưa là đường thiên lí từ vùng miễn núi chạy vẻ kinh đô Thăng Long.
Hiện nay đã có tuyến xe bus số 46 từ Hà Nội đến thẳng Cổ Loa (tại bến xe Mỹ Đình). LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Ở mục này, chúng tôi dựa vào các cứ liệu lịch sử đã được công bố để tái tạo một cách sơ lược vẻ lịch sử hình thành làng đồng thời qua đó chứng. minh ring Cổ Loa là một vùng dat in đậm dấu ấn lịch sử đất nước. Cổ Loa - vùng đất được cư dân Việt cổ khai phá từ rất lâu đời Các kết quả khai q khảo cổ học trong mấy chục năm qua [22] thì Cổ Loa là một trong những nơi sinh tụ đầu tiên của người Việt cổ.
Năm 1971-1972, tại xứ Đông Thành, trong khu vực Đường Cả, hay đường Cấm (nay là nghĩa trang của xã), nhân dân đã phát hiện ra được một số viên đá cuội có dấu vết bàn tay ghè đẽo, gia công ở rìa cạnh, trên hai mặt của các hòn cuội thường giữ lại vẻ tự nhiên. Phần lớn các hòn cuội này có chức năng của công cụ chặt, nạo, hay cắt, nhìn chung còn khá thô sơ. Loại đá cuội này sau còn tìm thấy ở những thêm còn sót trong khu vực Đầm Cả, đường Bụt, đường Rìu và làng Thư Cưu (tháng 3-1983). Các nhà khảo cổ xếp loại đá này vào di vật của văn hóa Sơn Vị, thuộc c ¡ thời đại đá cũ, cách ngày nay từ vạn đến hai vạn năm.
Chủ nhân của văn hoá Sơn Vỉ được giới khảo cổ. học xác nhận là người nguyên thuỷ. Việc phát hiện công cụ có gia công trên đây là cứ liệu quan trọng để khẳng định cách day từ một vạn đến hai vạn năm, tại các triển gò. đổi Cổ Loa ngày nay đã 'Ó người sinh sống.
Vào cuối thời đại đá mới ở Việt Nam (cách đây chừng 4000 năm), sức sản xuất phát triển với nghề trồng lúa nước tạo cho sự ổn định hơn hẳn so vớ sản bắn hái lượm, trồng lúa nương, đặc biệt việc phát minh ra đồ đồng đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Yêu cầu mở rộng không gian sinh tồn ngày một lớn, cũng là lúc xuất hiện đợt biển lùi. sở để cư dân Việt cổ từ cùng núi và chân núi tiến xuống khai phá vùng châu thổ Bắc Bộ, trong đó có Cổ Loa, khi đó phần lớn diện tích à vùng đảm lầy. Các dấu tích của thời đại đồ đồng được phát hiện khá nhiều ở Cổ Loa va xung quanh trong vòng mấy chi c năm qua đã chứng minh điều đó.
Hiện vật thu được trong các di chỉ này rất phong phú bao gồm: đồ đựng bằng gốm, công cụ sản xuất, đồ trang sức cả bằng đồng và bằng đá, được chế tác bằng kĩ thuật mài, cưa, khoan, tiện. Hình thức cư trú lúc này là Chạ (Chạ Chủ), giống như làng. Chạ Chủ sau này được Hán Việt hoá thành Khả Lũ, rồi Cổ Loa. Thời đại đồi ông được cư dân Việt cổ, trong đó có người vùng Cổ Loa duy trì và phát triển gần 4000 năm.
Đây là tiển đề để người Việt cổ Cổ Loa bước. thời đại Đông Sơn- thời đại c vua Hùng dựng nước. Cổ Loa - Kinh đô của nước Âu Lạc (thế kỉ II trước Công. Vào thế kỉ thứ III trước Công Nguyên, Thục Phán - thủ lĩnh của liên minh bộ lạc người Tây Âu (hay Âu ViệU ở miền núi phía Bắc nước Văn Lang của người Lạc Việt đã xây dựng cộng đồng mình ngày càng lớn mạnh.
Hai nhóm Lạc và Tây Âu cùng nằm trong khối Bách Việt, sống gân gũi nhau, nhiều vùng xen kẽ nhau trên lưu vực xông Hồng và sông Tây Giang, có mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tí van he Song vào cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xảy ra một cuộc. xung đột kéo dài. Đó là xung đột không thể tránh khỏi trong quá trình tập hợp các bộ lạc và liên mình bộ lạc gần gũi nhau để thành lập nhà nước và mở rộng phạm vi kiểm soát của nhà nước đó. Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì nước Văn Lang cũng như các liên minh người Lạc Việt và Tây Âu cùng toàn bộ các nhóm Việt trong khối Bách Việt đứng trước hiểm họa với cuộc bành trướng với quy mô lớn xuống phương Nam của đế chế Tân.
Trưới iém hoa đó, hai cộng đồng Lạc Việt do vua Hùng đứng đầu và Tay Âu do Thục Phán đứng đầu đã hợp nhất lại thành một khối. Đây là cơ sở cho sự ra đời của nước Âu Lạc. 'Việc thành lập nước Âu Lạc thể hiện sự lớn mạnh của cí ‘ong déng Việt cổ Lạc Việt và Tây Âu, là bước phát triển mới, kế tục và cao hơn nước 'Văn Lang. Các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá tiếp tục phát triển trên cơ sở.
những thành tựu đã đạt được của nước Văn Lang. ‘Sau khi lập ra nước Âu Lạc, An Dương Vương cho dời đô từ Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) xuống Cổ Loa Việc dời đô từ vùng trung du xuống châu thổ thể hiện sự phát triển, lớn mạnh và thống nhất của hai cộng đồng Âu Việt và Lạc Việ Đây còn là bước phát triển kế tục ủa nước Văn Lang với hai thành tựu nổi bật xây đắp thành Cổ Loa và in vũ khí mà chủ lực là nỏ và tên nỏ. Cổ Loa là thành thị đầu tiên của dân tộc Việ trong thời kì này, là trung tâm trao đổi kinh tế, văn hoá, trung tâm hội tụ văn mình, một đô thị nông nghiệp, luyện kim và giao thương, Nước Âu Lạc với kinh đô hay đô thành Cổ Loa là sự kế tục nước Văn. Lang, hùng mạnh được 50 năm.
Sau khi bị Triệu Đà xâm lược, An Dương Vương thất thủ, nước ta rơi vào tay phong kiến phương Bắc. Trong thời gian này, nhân dân ta không ngừng nổi dậy chống lại ách xâm lược và đồng hoá của chúng. Tiêu bi nhất ởi nghĩa ia Hai Bà Trưng năm 40 sau Công Nguyên. Trong cuộc \y, đất Cổ Loa là nơi Hai Bà dừng chân trên đường dẫn quân tiến xuống đánh vào hang ổ của bọn đô hộ nhà Hán tại Luy Lâu (vùng huyện ‘Thuan Thanh, Bắc Ni n nay).
Nhân dân Cổ Loa các làng, xã trong vùng nô nức theo Hai Bà ra trận. c vị tướng này đều chiến đấu tại mảnh đất Cổ Loa, trong đó hai vợ chồng Đào Kỳ - Phương Dung hi sinh ngay tại Cổ Loa. Ba năm sau, nhà Hán lại sai lã Viện sang đánh nước ta. Cuộc kháng.
chiến của Hai Bà thất bại. Nước ta lại rơi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Cổ Loa lần thứ hai trở thành kinh đô của đất nước. Sau gần nghìn năm đấu tranh bền bỉ chống ách đô hộ và đồng hoá của phong kiến phương Bắc, nhân dân ta đã giành lại quyền tự chủ với việc Khúc Thừa Dụ nhân lúc nhà Đường suy yếu, tự xưng là tiết độ sứ, nắm quyền cai quản đất nước (năm 905).
Trong hơn 40 năm tiếp theo, những người kế tục sự nghiệp của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo (con của Khúc Thừa Dụ), Dương Đình Nghệ Ngô Quyền đã đưa đất nước vượt qua những năm tháng đầu của công cu xây dựng và bảo vệ nên độc lập dân tộc. Trong những năm tháng của cu đấu tranh đó, Cổ Loa có vinh dự lớn là lần thứ hai trở thành kinh đô của nước. Sau khi đánh tan quân Nam Hán xâm lược, Ngô Quyên lên ngôi, đóng. đô ở Cổ Loa, cắt đặt các chức quan văn võ, quy định các nghỉ thức trong triều, áo mũ cho quan chức cao cấp.
Sau khi Ngô Quyển mất (năm Giáp Thìn, 944), con là Ngô Xương Ngập nối ngôi, vẫn đóng đô ở Cổ Loa nhưng ngay sau đó bị Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) cướp nụ xưng là Bình Vương. Năm Canh Tuất (950), Ngô Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn Vương, vẫn đóng đô ở Cổ Loa, đón anh là Xương Ngập về cùng trông coi việc nước. Năm Ất Sửu (965), Ngô. Xương Văn chết trong khi đem quân đánh đẹp các thế lực cát cứ Đường - Nguyễn ở vùng huyện Ba Vì (ủnh Hà Tây) và các huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ (tỉnh Phú Thọ) ngày nay.
Triều đình nhà Ngô tan tác. Năm sau (Bính Dần, 966), loạn 12 xứ quân nổi lên. Đất nước bị rơi vào cuộc nội chiến giữa các thế lực phong kiến, Cổ Loa mất vị thế là kinh đô và trở lại vị trí của một làng quê bình thường như bao làng quê khác của Việt Nam. Cổ Loa và những biến cố của lịch đất nước thời phong kiến tự chủ, đầu thời cận đại "Từ sau khi dan Cha Chủ gốc phải dời đi để xây thành Cổ Loa và sau thất bại của vua An Dương Vương trước âm mưu thâm hiểm của Triệu Đà cho đến đầu thế kỉ XV đã có nhiều lớp dân cư chuyển đến sinh sốngt: Cổ Loa.
"Từ đầu thời Lý (1009-1225) trở đi, kinh đô nước Đại Việt là thành Đại La (sau đổi là Thăng Long). Cổ Loa chỉ được nhắc đến với các tên gọi là thành Kha La, Phong Khe, Kim Lũ. trong một vài cuốn s sử, địa chí, để nhắc lại một thời kì lịch sử hào hùng mà bì tráng của đất nước. Từ nữa sau thé ki XV trở di, cu dân các nơi chuyển đến vùng Cổ Loa sinh sống ngày một đông và luôn chịu những tác động của mất mùa đói kém, a nội chiến nên tinh trạng hồi cư - hợp cư - phiêu tán rồi lại hồi cư luôn Xây ra.