Chương 1: Tổng quan về xã Xuân Phương và lịch sử đình Thị Cắm, đình Hòe Thị. Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể đình Thị Cắm và dinh Hoe Thi. Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể đình Thị Cắm và đình Hòe Thị. CHUONG 1 TONG QUAN VE XA XUAN PHUONG VA LICH SU INH TH] CÁM, ĐÌNH HÒE THỊ 1.Tổng quan về xã Xuân Phuong 1.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Xuân Phương tên cũ là Hương Canh (làng Canh) là vùng đất cổ phía tây ngoại thành Hà Nội. Trong lịch sử Xuân Phương đã nhiều lần thay đổi tên gọi và đơn vị hành chính. Thời Trần xã Xuân Phương thuộc lộ Quốc Oai Nam 1469 Xuân Phương thuộc về Thừa tuyên Sơn Tây. Thời Lê Trung Hưng, xã có tên là Hương Canh thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trắn Sơn Tây.
Đến năm 1831 huyện Từ Liêm (gồm cả Hương Canh) thuộc về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Sách Hà Nội địa bạ (viết năm 1866) và Đồng Khánh dư địa chí (do Quốc sử quán triều Nguyễn in năm 1888) có ghi: xã Hương Canh thuộc tổng Hương Canh, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Cuối thế kỷ 19, tên xã và tổng Hương Canh đổi thành Phương Canh (sách Danh mục làng xã Hà Nội do nhà Kinh Lược Bắc Kỳ soạn năm 1890 có ghỉ như vậy). Năm 1902 Phương Canh và toàn bộ phủ Hoài Đức thuộc về tỉnh Hà Đông.
Sau năm 1945 xã Phương Canh lại đổi thành Xuân Thủy, năm 1959 đổi thành xã Xuân Phương, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Đông, đến 1961 sát nhập vào huyện Từ Liêm, thuộc ngoại thành Hà Nội cho đến ngày nay. Xã Xuân Phương, phía bắc giáp với các xã, Minh Khai, Phú Diễn, phía Nam giáp với xã Tây Mỗ, phía đông giáp với xã Mỹ Đình và thị trấn Cầu Diễn. Các xã, thị trấn đều nằm ở huyện Từ Liêm. Riêng phía tây Xuân Phương giáp với xã Vân Canh, huyện Hoài Đức.
Nam cach trung tâm Hà Nội khoảng 15km, từ Cầu Giấy, theo quốc lộ 32 đến Cầu Diễn rẽ trái, theo đường Xuân Phương chừng 2km là vào thẳng các khu di tích trong xã. Xuân Phương có nhiều đường giao thông quan trọng chạy qua. quốc lộ 32 chạy từ Hà Nội lên Sơn Tây, ngang qua xã theo hướng đông- tây nối với thủ đô và khu vực trung du Tây Bắc đất nước. Đường tỉnh lộ 70 chạy.
từ Hà Đông lên thị trắn Nhỗn qua xã Xuân Phương theo hướng bắc- nam. Về đường thủy, con sông Nhuệ chạy men phía đông của xã, ngược lên phía bắc ra sông Hồng, xuôi về hạ lưu hướng xuống thị xã Hà Đông và về tận cầu Rẽ. Con sông Nhuệ ngày nay hẹp và nước cạn, thế nhưng ngày xưa nước sông khá sâu, sách Hà Nội Sơn Xuyên Phong Vực viết năm 1887 có ghỉ: “Sông Nhuệ còn có tên là sông Đỗ Động. chảy đến Phú Diễn, Xuân Canh, nước sông khá sâu” [43, tr.22] Về khí hậu, Xuân Phương có chung đặc điểm thời tiết Hà Nội nói chung : nóng âm, mưa nhiều.
Sách Đồng Khánh Dư Địa Chí viết: Khí hậu ở đây, tháng giêng, hai, ba, ấm áp có mưa phùn, các tháng 4,5,6,7 nắng nóng, thường có mưa rào, nước sông dâng cao. Tháng 8 mát dịu, nhiều mưa, thỉnh thoảng có bão. Tháng 9, ít mưa, nước sông rút dần. Tháng 10 đến đầu tháng chap gió bắc rét lạnh [43, tr.26] Nam 6 vi tri dia lý tự nhiên khá thuận lợi như vậy, Xuân Phương có nhiều điều kiện để giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa với nhiều vùng miền khác nhau.
Xuân Phương có bốn thôn là Hòe Thị, Thị Cấm, Ngọc Mạch, Tu Hoàng. Trong đó có hai thôn là Thị Cắm và Hòe Thị có di tích và lễ hội thờ thành hoàng Phan Tây Nhạc và các bà vợ của ông ta. Tên của hai làng liên quan đến một truyền thuyết về Lý Phục Man khi đi đánh giặc bị thương chạy qua đây. Đến làng Thị Cấm ông hỏi chuyện một người đàn bà, người đàn bà này sợ hãi không dám nói gì, ông buột miệng nói: “Thị Cắm” (người đàn bà câm ).
Chạy sang làng dưới, ông gặp một người đàn bà chỉ cười cũng không nói gì, ông nói: “ Hòe Thị” (người đàn bà cười). Từ đó thành tên hai làng. Dân cư và truyền thống lịch sử Xuân Phương là mảnh đất cổ, nằm trong dòng chảy văn hóa Sơn Tây- Thang Long nên có một bề dày truyền thống đậm bản sắc, góp phần tạo dựng văn hóa Thăng Long- Hà Nội nghìn năm văn hiến. Di chỉ khảo cổ học ở cánh đồng Ngọa Long hay còn gọi là cánh đồng Trầm (nay thuộc xã Minh Khai) cách Xuân Phương gần 2km, tìm được những di vật có niên đại từ đầu thời đại đồ đồng thau (khoảng 4000 năm trước đây) chứng minh khu vực này đã có cư đân đến tụ cư từ rất sớm.
Mảnh đắt này thấm đượm bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa, lao động sản xuất, được tích lũy từ ngàn đời không ngừng chảy trong mỗi thế hệ người dân nơi đây. Theo thần phả ở hai đình Thị Cắm và đình Hòe Thị thì từ đời Hùng Vương đây là mảnh đất trù phú, cây cỏ tốt tươi, phong tục thuần hậu. Một vị tướng của Tản Viên sơn thánh là Phan Tây Nhạc đã chọn nơi đây xây dựng Tây Hành Cung để sống cùng ba bà vợ và đã trở thành thành hoàng của hai làng Thị Cầm và Hoe Thi Sau này đến thời Lý Nam Đề vùng đất này lại gắn với các truyền thuyết liên quan đến các vị tướng của nhà nước Vạn Xuân, như việc tướng Lý Phục Man đánh giặc đi qua làng. Xuân Phương từ xưa đến nay, luôn gắn với lịch sử mảnh đất và con người của huyện Từ Liêm.
Từ Liêm là vùng đất cổ, nằm ngay sát với kinh thành Thăng Long, với hệ thống giao thông thủy , bộ thuận tiện, sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn cho biết cái tên Từ Liêm được đặt từ những. năm Vũ Đức thứ 4 (621), tính ra tới nay đã được gần 1400 năm. Từ khi Thăng Long trở thành kinh thành của nước Đại Việt (1010), mọi biến cố chính trị, văn hóa đều có tác động đến Từ Liêm. Những khi Thăng Long bị giặc ngoại xâm, thì Từ Liêm là nơi tập trung quân để giải phóng thủ đô.
Năm 1789, Quang Trung da bí mật đưa quân ra tập trung ở Mễ Trì, Nhân Mục và Phùng Khoang để đánh quân Thanh ở Đống Đa. Sang thế kỷ 19, Hoàng Kế Viêm đã tụ quân ở đây rồi đánh hai trận ở Cầu Giấy nỗi tiếng năm 1873 và 1883 Nói về những sự kiện lịch sử thời kỳ này, Hà Thành thất thủ cả (viết năm 1873) có câu “ Ông Tham Tôn tức sự khởi hành Dem quan về đóng Diễn, Canh” (Tham Tôn khi ấy chính là Tham Tán quân vụ Tôn Thất Thuyết). Nói về thể hiểm của huyện Từ Liêm, trong bản tấu gửi vua Minh Mệnh năm 1832, tổng đốc Hà Nội viết : “ Tir Liêm là một huyện lớn, đắt rộng, dân nhiều, tiếp giáp đầu xứ Tây Bắc, thực là xung yếu. Công việc tuần phòng phải rất được coi trọng.” Sang thế kỷ 20 nhân dân Xuân Phương lại tiếp nói truyền thống yêu nước của cha ông, viết tiếp lên truyền thống lịch sử.
'Năm1930 đồng chí Lều Thọ Nam, thành ủy viên thành ủy Hà Nội, đã về đây tuyên truyền và xây dựng tổ chức cách mạng.1930 các hội viên Nông hội đỏ đã treo cờ đỏ búa liềm ngay tại cây đa đình làng Hòe Thị và ở ngã tư Canh. Tại chợ Canh cũng có một cây đề, trong kháng chiến chống Pháp, đã diễn ra một sự kiện quan trọng của địa phương. Tại đây, thực dân Pháp đã bắt, tra tấn và xử tử đồng chí Nguyễn Thị Hoài- nguyên bí thư phụ nữ cứu quốc xã kiêm chính trị viên xã đội. Đặc điểm kinh tế Là vùng đất gắn với nhiều huyền thoại, sự tích về các vị thần, xung quanh khu vực Hồ Tây, sông Tô Lịch, không những thế, Từ Liêm còn là vùng đất có nhiều làng nghề nỗi tiếng, mà chắc rằng khi nói đến một trong những sản vật ấy người ta sẽ nhắc ngay tới Thăng Long- Hà Nội như: Cốm làng Vòng, cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh, nghề rèn ở Hoe Thị.
Nhân dân xã Xuân Phương có truyền thống lao động cần cù. Nhiều sản vật địa phương đã trở nên nỗi tiếng và được ca ngợi khắp nơi trong cả nước. Cam Canh là một sản phẩm nông nghiệp nỗi tiếng của địa phương, cam Canh nỗi tiếng quả nhỏ, vỏ mỏng, chín ngọt và thơm. Ngọt thay cái quả cam vàng.
'Vừa thơm vừa mát hãy còn trong Canh Tir lau đời nhân dân Xuân Phương vẫn lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính, cây lương thực chủ yếu là cấy lúa và có trồng thêm ngô, khoai và chăn nuôi trong gia đình. Cũng như bao làng quê khác Thị Cắm và Hòe Thị là một trong những làng sinh sống bằng nhiều nghề. Ruộng đất nơi đây là loại đắt thó trắng nên có thể dùng làm gạch ngói rất tốt vì vậy mà nghề làm gạch ngày trước cũng khá phát triền. Xuân Phương là nơi có nhiều nghề thủ công như nghề dệt vải, dệt lụa, nghề canh cửi.
Theo truyền thuyết bà Hoa Dung công chúa, vợ ba của Phan Tây Nhạc đại vương là người có công dạy. dân cách làm ruộng và dệt vải. Dân làng đã học theo và bảo tồn nghề này qua năm tháng. Nghề dệt còn phát triển đến những năm 1930- 1940.
Người dân mua sợi từ Hà Đông rồi đem về làng dệt. Vải của làng Canh đã trở nên nỗi tiếng mà muôn đời sau đó truyền tụng câu nói “The La, lụa Van, vải Canh” hay *Sồi Ải, vải Canh”. Những sản phẩm làm ra được đem bán khắp nơi trong vùng, trong lễ hội đình làng Hòe Thị ngày trước vẫn còn tổ chức thi dệt vải giữa các giáp trong làng với nhau để tưởng nhớ công ơn của vợ chồng Phan Tây Nhạc đại vương và mong muốn cho nghề vải mãi phát triển. Bên cạnh nghề dệt vải là nghề thêu như ca dao cổ đã ca ngợi “Ở Canh vẽ gắm thêu hoa Ve con rồng bạch đem ra cửa đền”.
Không chỉ có vậy nghề làm thuốc, lò rèn, vàng, bạc cũng phát đạt Người dan Thi Cém va Hòe Thị còn vào trong kinh ky dé buôn bán, góp phần tạo nên những phố buôn nỗi tiếng như phố Hàng Bạc (chuyên chế tác bạc), phố Sinh Từ (chuyên bán dao kéo), phố Lò Rèn, phố Hàng Thiếc (chuyên bán đồ da dụng bằng thiếc). Người làng Canh còn lập hẳn một ngôi đình tại số 1 Lò Rèn để người dân ra Hà Nội làm thợ đến tế lễ. Đặc biệt, nghề rèn là nghề phát triển hơn cả.