Tổng quan nghiên cứu

Đình làng Việt Nam từ lâu đã trở thành biểu tượng trung tâm của đời sống tâm linh, văn hóa và sinh hoạt cộng đồng làng xã truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ. Trong hệ thống di sản kiến trúc cổ truyền tại Hải Dương, đình Quý Dương thuộc xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng là công trình tiêu biểu, được công nhận là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1993. Ngôi đình là không gian linh thiêng tôn thờ vị Thành hoàng làng là Lỗi Hứa cư sĩ, tức Ngũ Lang đại vương, vị tướng tài ba có công chiêu mộ hơn 2.000 nghĩa binh tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào đầu Công nguyên.

Không gian văn hóa đình Quý Dương tọa lạc trên vùng đất Tân Trường có tổng diện tích tự nhiên 482,06 ha với 2.768 hộ dân và 11.348 nhân khẩu. Vùng đất này hiện đang trải qua tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa mạnh mẽ, khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng từ 358 ha đất nông nghiệp sang phát triển các khu công nghiệp trọng điểm. Nhờ sự chuyển dịch này, tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương đã giảm sâu xuống còn 0,8%, tỷ lệ gia đình đạt chuẩn văn hóa đạt 89%. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế với tốc độ đô thị hóa cao cũng đặt ra thách thức lớn đối với việc duy trì không gian văn hóa truyền thống và bảo lưu nguyên vẹn các nghi lễ cổ.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của tác giả Bùi Thị Hiền tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tập trung nghiên cứu toàn diện giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đình Quý Dương từ khởi nguồn thế kỷ XVII, qua đợt đại trùng tu năm 1897 dưới triều vua Thành Thái cho đến nay. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học vững chắc nhằm đánh giá thực trạng biến đổi di tích, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp bảo tồn thích ứng với bối cảnh đô thị hóa đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thiết chế văn hóa làng xã cổ truyền để phân tích đình làng dưới ba góc độ chức năng hòa quyện: trung tâm hành chính, không gian sinh hoạt văn hóa và biểu tượng tín ngưỡng tâm linh. Bên cạnh đó, lý thuyết biểu tượng văn hóa được áp dụng để giải mã hệ thống mỹ thuật trang trí điêu khắc gỗ dân gian, làm sáng tỏ ước vọng phồn thực và tinh thần hòa hợp nhân sinh của cư dân nông nghiệp.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Di sản văn hóa vật thể: Thể hiện qua hệ thống kiến trúc gỗ, bình phong, nghi môn, 18 bức hoành phi, 12 đôi câu đối và cổ vật tại di tích.
  • Di sản văn hóa phi vật thể: Bao gồm tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thần tích tướng quân Ngũ Lang và diễn trình lễ hội truyền thống ngày mùng 2 tháng 5 âm lịch.
  • Thiết chế đình làng: Đóng vai trò là không gian gắn kết cộng đồng và duy trì các quy ước hương ước địa phương.
  • Tín ngưỡng đa nguyên: Sự dung hợp giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh anh hùng dân tộc và các lớp tín ngưỡng tự nhiên sơ khai.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành gồm Văn hóa học, Sử học, Bảo tàng học và Dân tộc học. Về phương pháp thu thập dữ liệu thực địa, nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp toàn bộ 42 cấu kiện kiến trúc và hiện vật gỗ tiêu biểu trong khuôn viên đình. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 15 cá nhân am hiểu văn hóa địa phương, gồm các bậc cao niên trong tổ phụ lão, nghệ nhân dân gian và cán bộ thuộc Ban Quản lý Di tích xã Tân Trường. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm bảo đảm tính xác thực của các nguồn tư liệu truyền ngôn về thần phả và diễn trình nghi lễ cổ.

Đối với dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu phân tích và đối sánh các văn bản Hán Nôm, thần tích ghi chép năm 1938, sách Địa dư huyện Cẩm Giàng xuất bản năm 1931 của Ngô Vi Liễn cùng các tư liệu lưu trữ của Bảo tàng tỉnh Hải Hưng giai đoạn 1964–1983. Timeline thực hiện nghiên cứu kéo dài trong 3 năm, bảo đảm quá trình quan sát tham dự vào các kỳ lễ hội thường niên diễn ra chân thực và đầy đủ nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định nét độc đáo trong mặt bằng kiến trúc đình Quý Dương. Công trình kết hợp hài hòa giữa dạng thức chữ Đinh ở mặt bằng tổng thể và kết cấu chữ Công ở hệ thống liên kết mái. Tòa tiền tế gồm 3 gian 2 chái có chiều dài 14m, chiều rộng 8m với nền nhà tôn cao hơn sân 35cm, được nâng đỡ bởi hệ thống 24 cột gỗ nguyên khối vững chắc (cột cái có đường kính 50cm, chiều cao 4,1m; cột quân có đường kính 30cm, chiều cao 3m).

Thứ hai, hệ thống điêu khắc trang trí tại đình Quý Dương thể hiện kỹ xảo tạo tác gỗ tinh xảo thời Nguyễn muộn với niên đại ghi nhận trên thượng lương là năm 1897 (Thành Thái Bính Thân). Di tích bảo lưu 18 bức hoành phi sơn son thếp vàng, nổi bật là bức hoành phi niên hiệu Duy Tân Canh Tuất năm 1910, cùng 12 đôi câu đối chữ Hán chạm khắc công phu theo thể chữ chân và chữ triện.

Thứ ba, tỷ lệ bảo lưu các cấu kiện gỗ truyền thống đạt hơn 75% qua các giai đoạn tu sửa năm 1936, 1965–1966 và 1990. Tín ngưỡng thờ Lỗi Hứa cư sĩ phản ánh sự dung hợp đặc sắc giữa ký ức lịch sử về thời kỳ Hai Bà Trưng với ước vọng hộ quốc an dân của cộng đồng làng Mỏ Đông xưa.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu về đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVII–XVIII như đình Tây Đằng hay đình Lỗ Hạnh, kiến trúc đình Quý Dương cho thấy bước chuyển dịch rõ nét sang phong cách thời Nguyễn muộn. Hệ thống chạm khắc tập trung nhiều vào các đề tài quy chuẩn hóa như Tứ linh, Tứ quý và Bát bửu thay vì các cảnh sinh hoạt dân dã thế kỷ XVII.

Dữ liệu khảo sát mỹ thuật điêu khắc có thể được trực quan hóa thông qua bảng thống kê cơ cấu đề tài trang trí:

  • Nhóm Tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) chiếm tỷ trọng cao nhất với 45% tổng số mảng chạm khắc, xuất hiện dày đặc trên các cốn vì nách và đầu dư.
  • Nhóm Tứ quý (Tùng, Cúc, Trúc, Mai) chiếm 30%, biểu trưng cho bốn mùa sung túc và khí tiết người quân tử.
  • Nhóm đề tài Bát bửu và đồ vật phong lưu chiếm 15%.
  • Nhóm hoa văn hình học, triện tàu lá lật chiếm 10% diện tích trang trí phụ trợ.

Tiến trình biến đổi không gian di tích cũng có thể mô hình hóa qua biểu đồ timeline thể hiện sự thu hẹp của không gian đệm nông nghiệp (từ 400 mẫu ruộng canh tác đầu thế kỷ XX xuống còn không gian bao quanh bởi các khu đô thị và nhà máy công nghiệp hiện đại). Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc cân bằng giữa bảo tồn di sản và hiện đại hóa hạ tầng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa và phân tích thực trạng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Ứng dụng công nghệ số hóa 3D photogrammetry và lập hồ sơ dữ liệu số đối với toàn bộ 24 cột gỗ chịu lực cùng 42 hiện vật gỗ quý, hoàn thành trước năm 2026 dưới sự chủ trì của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương.
  • Phục dựng và chuẩn hóa diễn trình lễ hội truyền thống ngày mùng 2 tháng 5 âm lịch, tập trung vào trò chơi cướp cầu gỗ và đấu vật dân tộc nhằm tăng từ 25% đến 30% lượng khách tham quan văn hóa giai đoạn 2025–2027 do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cẩm Giàng phối hợp tổ chức.
  • Quy chuẩn hóa quy chế quản lý vùng đệm di tích trong quy hoạch tổng thể 482,06 ha của xã Tân Trường, bảo vệ nghiêm ngặt khuôn viên tường bao cao 2m và giếng ngọc trước cửa đình do Ủy ban nhân dân xã Tân Trường trực tiếp quản lý.
  • Kiện toàn Ban Quản lý Di tích cơ sở và thành lập Quỹ xã hội hóa bảo tồn di sản, đặt mục tiêu huy động 500 triệu đồng mỗi năm phục vụ công tác chống mối mọt và đảo ngói định kỳ 5 năm một lần do cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp trên địa bàn đóng góp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học giá trị phục vụ trực tiếp cho 4 nhóm đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu Văn hóa học, Sử học và Mỹ thuật cổ truyền: Sử dụng dữ liệu thực chứng về mặt bằng kết cấu chữ Đinh kết hợp chữ Công và hệ thống hoa văn thời Nguyễn để so sánh đối chiếu kiến trúc đình làng Bắc Bộ.
  • Cán bộ quản lý di sản và chính quyền địa phương: Tham khảo khung giải pháp bảo vệ di tích trong bối cảnh công nghiệp hóa nhanh để áp dụng cho các di tích lịch sử cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Di sản văn hóa: Ứng dụng phương pháp nghiên cứu điền dã liên ngành và quy trình phân loại cổ vật làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu.
  • Các đơn vị phát triển du lịch văn hóa bền vững: Khai thác tiềm năng không gian cảnh quan ven sông Ghẽ và Quốc lộ 5 để xây dựng các tour du lịch di sản làng nghề, lễ hội truyền thống tại Cẩm Giàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Đình Quý Dương thờ vị Thành hoàng nào và có công tích lịch sử gì? Đình tôn thờ Lỗi Hứa cư sĩ, tên thật là Ngũ Lang đại vương, con trai thứ năm của ông Cao Danh Hành. Ngài là vị tướng tài ba hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, chiêu mộ hơn 2.000 nghĩa binh luyện quân tại đất Quý Dương để đánh đuổi thái thú Tô Định cứu nước.

2. Điểm độc đáo nhất trong kết cấu kiến trúc của đình Quý Dương là gì? Công trình sở hữu mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh nhưng phần mái chuôi vồ và hậu cung lại tạo dáng chữ Công độc đáo. Tòa tiền tế dài 14m, rộng 8m được chống đỡ bởi 24 cột gỗ lớn với kết cấu vì nóc giá chiêng chồng rường cụt đặc trưng thế kỷ XVIII–XIX.

3. Niên đại khởi dựng và các mốc trùng tu lớn của đình được ghi nhận như thế nào? Căn cứ văn bia và di vật, đình được khởi dựng từ thế kỷ XVII thời Lê Trung Hưng. Mốc đại trùng tu lớn nhất được khắc trên thượng lương hậu cung vào tháng 11 năm Bính Thân 1897 dưới triều vua Thành Thái, cùng các lần sửa chữa năm 1936, 1965, 1984 và 1990.

4. Lễ hội truyền thống đình Quý Dương diễn ra vào thời gian nào với hoạt động gì nổi bật? Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 2 tháng 5 âm lịch hằng năm. Điểm nhấn đặc sắc nhất của hội làng là tục thi cướp 3 quả cầu gỗ giữa các tráng niên để cầu may mắn, mùa màng thịnh vượng, kết hợp đấu vật truyền thống, hát đúm và hát trống quân.

5. Quá trình công nghiệp hóa tại xã Tân Trường tác động thế nào đến công tác bảo tồn di tích? Sự chuyển dịch cơ cấu từ 358 ha nông nghiệp sang các khu công nghiệp tạo nguồn lực tu bổ dồi dào nhưng cũng làm biến đổi cảnh quan nông thôn truyền thống, đòi hỏi phải thực hiện nghiêm ngặt quy chế bảo vệ vùng đệm và số hóa di sản để tránh mai một.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành và xác định niên đại khởi dựng từ thế kỷ XVII của đình Quý Dương, di tích quốc gia từ năm 1993.
  • Khảo tả chi tiết kiến trúc tiền tế 3 gian 2 chái dài 14m, rộng 8m với 24 cột gỗ lim cùng kho tàng hiện vật gồm 18 hoành phi và 12 đôi câu đối cổ.
  • Làm sáng tỏ giá trị văn hóa phi vật thể qua tín ngưỡng tôn thờ Thành hoàng Ngũ Lang đại vương và hội tranh cầu gỗ mùng 2 tháng 5 âm lịch.
  • Phân tích sâu sắc tác động của quá trình chuyển dịch kinh tế tại xã Tân Trường với 11.348 nhân khẩu đối với việc bảo lưu di sản.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước từ số hóa 3D đến năm 2026, phục dựng lễ hội giai đoạn 2025–2027 và huy động quỹ bảo tồn 500 triệu đồng hằng năm.

Công trình là nguồn tư liệu khoa học nền tảng, mở ra hướng tiếp cận liên ngành hiệu quả trong công tác bảo tồn di sản kiến trúc làng xã Bắc Bộ trước làn sóng đô thị hóa. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa có thể khai thác trực tiếp luận văn này để xây dựng các đề án bảo tồn và phát triển du lịch bền vững cho địa phương.