Chương I ĐÌNH QUÝ DƯƠNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HOÁ XÃ TÂN TRƯỜNG Đình làng Quý Dương còn được gọi là đình Mö (theo tên Nôm của làng là làng Mỏ Đông). Đình thuộc về xã Tân Trường, huyện Cẩm Giang, tinh Hai Dương. Đình nằm gần sát đường quốc lộ số 5. Ngôi đình làng tồn tại trong không gian văn hóa của làng xã nông thôn Việt Nam.Lịch sử ngôi đình chịu tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội ở địa phương xã Tân Trường mà chúng ta cẻ tìm hiểu.
Tỗng quan về xã Tân Trường. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Tân Trường ngày nay là một trong 19 xã và thị trấn thuộc huyện Cảm Giang, tinh Hai Dương. Xã Tân Trường tiếp giáp với các xã Cam Dinh, Cam Sơn và Kim Giang ở phía Bắc, thị trắn Lai Cách ở phía Đông, xã Cẩm Phúc ở: phía Tây và xã Cảm Đông ở phía Nam. Xã Tân Trường nằm ngay trên đường quốc lộ số 5- một trục lộ giao thông quan trọng của Việt Nam và gần cận với một số trung tâm thương mại như: cách huyện ly Cảm Giảng 6 km về phía Tây, cach thi tran Kẻ Sặt 4 km về phía tây nam và cách thành phó Hải Duong 15 km vé phia Dong [6, tr.
Ving đất này vốn là đất của người Việt cổ, cư dân khai thác lâu đời. Suốt một thời kỳ dài nghìn năm Bắc thuộc, vùng đất Tân Trường cũng như toàn tỉnh Hải Dương thuộc về quận Giao Chỉ. Sang thời Đinh, Lê, nhà nước. phong kiến độc lập đã chia Hải Dương thuộc về châu Hồng, đời Trằn chuyển thành lộ Hồng Châu.
Đến đầu đời Lê lại đổi thành Đông đạo.Năm 1466, vua Lê Thánh Tông cải cách hành chính, vùng đất Hải Dương khi đó thuộc về Thừa tuyên Nam Sách. Năm 1471, đổi tên Nam Sách thành Hải Dương, cái tên Hải Dương tồn tại từ đó cho đến ngày nay [25, tr. 1220] "1 Đời Lê Trung hưng, thừa tuyên được đổi thành trấn, Hải Dương trở thành một trong bốn trấn quan trọng xung quanh kinh thành Thăng Long. 'Vùng đất Tân Trường thuộc về huyện Cảm Giảng, phủ Thượng Hong, tran Hai Duong.
Nam 1831, Minh Mạng cho cải cách hành chính, sắp xếp lại các đơn vị hành chính, vùng đất Tân Trường thuộc về tổng Tràng Kỹ, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, tổn tại cho đến năm 1945 [33, tr.71] Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tân Trường có 5 làng (cũng là 5 xã cũ) và 3 trại. Các làng bao gồm Trảng Kỹ (làng Ghẽ), Phù Xã (làng Quan), Trin Ky (làng Ghi), Quý Dương (làng M) và Mai Trung (làng Vàng), Ngoài 5 làng trên, Tân Trường khi đó bao gồm 3 trại là Mai Trung, Chỉ Khê và Ghẽ. Tháng 4 năm 1946, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, tổng Tràng Kỹ được giải tán, các làng trại kể trên hợp nhất lại thành xã Tân Trường và tồn tại cho đến ngày nay. Theo cuốn “Đja đự huyện Cẩm Giàng ” của tác giả Ngô Vỉ Liễn, thì đầu thế ky XX, làng Quý Dương được ghỉ chép lại như sau: Làng Quý Dương hay gọi là làng Mỏ là một thôn lớn của tổng Tràng.
Quy Duong giáp Đông Xá về phía Nam, An Điềm về phía Bắc, Lai Cách về phía Đông và Tràng Kỹ về phía Tây. Quý Dương chia thành 4 giáp và 1 xóm nhỏ cách làng 500 mét vé phía Đông Dân cư: định 260 suất, nam phụ, lão ấu 938 người Canh phòng: có 4 sở điếm canh. Một điếm bằng gạch ở rìa đường thuộc địa, một điểm ở công cái làng về phía Tây, một ở đình về phía Đông Bị „ còn một cái ở đầu khu xóm lẻ. Canh nông: 400 mẫu cấy mùa, 50 mẫu cấy chiêm và 10 mẫu giống hoa màu.
Kỹ nghệ có nghề làm bột lọc, tục gọi là bột thanh tải đi bán ở Hải Dương và Hải Phòng xem ra phát đạt lắm Thương mại ở phía Đông làng, trước cửa đình có một cái chợ mỗi tháng họp 6 phiến vào các ngày 4 và 9 buôn bán dủ thứ. 12 'Đê đường, cầu, cống trong làng có nhiều đường rộng rãi từ xóm nọ. đến xóm kia đều lát gạch cả. Việc học có một trường Hương sư được 40 đến 50 học sinh Nhà trường làm bằng gạch.
Phong tục cứ đến ngày 2 tháng 5 ta, dân làng kén các hạng trai trang ăn mặc nai nịt đánh cầu (quả cầu bằng gỗ). Hễ ai tranh được. quả cầu nhất là người ấy làm ăn thịnh vượng trong năm ấy. Khi tranh cầu 3 quả cầu xong thì làm lẽ tạ ơn Thành hoàng.Trong khi vào đám lại có lệ đánh vật Đình chùa có một chùa ở cuối làng gọi là chùa Báo Ân và một ngôi đình làng cũng ởcuối làng trông thẳng ra đường thuộc địa [22, tr814] Trên địa bàn xã Tân Trường có sông Ghẽ chảy từ thị trắn Cảm Giảng chảy dọc địa giới phía tây của xã qua các cánh đồng Trân Kỳ, Mai Trung đỗ vào sông Sặt.
Đây là con đường thủy thuận tiện cho thuyền bè qua lại với nhiều vùng trong khu vực. Trên địa bàn xã Tân Trường có rất nhiều trục đường giao thông quan trọng nối thủ đô Hà Nội với cảng biển Hải Phòng như đường quốc lộ số 5 ở phía nam xã và đường xe lửa ở phía bắc xã. Với địa bàn gần các đô thị và có các con đường giao thông thuỷ bộ hết sức quan trọng và thuận tiện như trên, Tân Trường, là một xã có vị trí chiến lược cả về quân sự, chính trị và đây còn có nhiều tiềm năng dé phát triển kinh tế của xã nói riêng, của Hải Dương nói chung, Về mặt địa lý, Tân Trường là một làng đồng bằng nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và âm của châu thổ Bắc Bộ, một năm chia làm bốn mùa xuân- hạ- thu- đông rõ rệt. Đầu thế kỷ XX, Ngô Vi Liễn cho biết: “hạt Câm Giàng cũng bình thường, không ẩm thấp lắm.
Mùa hè có gió bề thôi qua và chung quanh huyện hạt có sông chảy bao quanh lên được mát mẻ dễ chịu” I2, tr.734] 13 'Vào giai đoạn từ tiếtlập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai - đầu tháng tư dương lịch) có hiện tượng mưa phùn và nồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa. Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười hàng năm Nhiệt độ không khí trung bình năm là 24°C. Do chịu ảnh hưởng của gió mùa, vùng đất Tân Trường có độ âm và lượng mưa khá lớn. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm từ 8S - 87%.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ khoảng 1.700mm với khoảng 112 ngày mưa mỗi năm. Vào mùa hè, trời nóng, nhiệt độ có khi lên đến 38 thậm chí 40°C, ngược lại, vào mùa đông, nhiệt độ nhiều khi xuống chỉ còn 8 đến 10C, trời nhiều mây, u ám, có hôm lượng mây che phủ bầu trời gần như toàn bộ thời gian. Tuy nhiên, nhìn chung khí hậu nhiệt đới gió mùa này đã đem đến sự ưu đãi cho thiên nhiên, con người vùng này trong quá trình sinh sống và phát triển Khí hậu thời tiết thuậ lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương. thực, thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất cây rau mẫu vụ đông.
Đặc điểm kinh tế Tân Trường là một xã đông dân, nhiều ruộng, có tiềm năng đất đai phong phú, một nguồn nhân lực đồi dào. Nhân dân Tân Trường có nghề nghiệp chính là làm ruộng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc. Toàn xã có diện tích tự nhiên là 482,06 ha trong đó điện tích để sản xuất nông nghiệp chiếm tới 358 ha. Lúa là cây lương thực chủ yếu, ngoài ra nhân dân còn trồng thêm các loại hoa mẫu khác như khoai, lạc đổ.
Ngoài ra, từng làng còn có những nghề phụ khác như ở Quý Dương có nghề làm bột lọc nồi tiếng [22, tr.739] và làng nào cũng có số ít người chuyên đi buôn bán vặt chay chợ. sáng đi tối về và đi làm thuê làm mướn hàng ngày. Nhân dân Tân Trường vốn cần cù lao động, qua nhiều thế hệ đã đem công sức của mình chống chọi thiên nhỉ: |, Khai pha đất hoang thành đất trồng, khơi ngòi xây cống lấy nước để sản xt t, khoanh vùng chống úng, đắp 14 đê chống lụt, đào đắp đường xá phục vụ cho việc giao thương kinh tế, dựng lên các làng xóm trù phú, yên bình. Trước năm 1945, nơi đây có điều kiện phát triển sản xuất và giao thương.
Chợ Mỏ họp vào các ngày mùng 4 và mùng 9 âm lịch hàng tháng và chợ Ghẽ họp vào các ngày mùng 2, mùng 5, mùng 7 và mùng 10 âm lịch các tháng là 2 chợ của địa phương nhưng thuộc loại lớn trong huyện. Những ngày vào phiên chợ, trên bến dưới thuyền hàng hóa buôn bán đông vui sằm uất.Đầu chợ Ghẽ hình thành lên một khu phố với rất nhiều cửa hàng tạp hóa, quán trọ Ngày nay, Tân Trường là một xã đang trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa mạnh mẽ, vì vậy cơ cấu kinh tế cũng được chuyển dịch theo hướng phát triển đô thị: giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại. Đây thực sự là thế mạnh của địa phương. Trên địa bản của xã đang hình thành lên một khu công nghiệp, trọng điểm là khu công nghiệp Tân Trường.
Các ngành nghề phát triển nhanh đã thu hút số lượng lao động ngày một nhiều. Mô hình sản xuất kinh doanh được hình thành và đã phát huy tác dụng. Đến năm 2005, toàn xã có 17 doanh. nghiệp sản xuất kinh doanh đồ mộc, 13 doanh nghiệp sản xuất cơ khí, 21 doanh nghiệp xây dựng, 18 doanh nghiệp kinh doanh vận tải.
Quá trình thay đối cơ cấu sản xuất kinh tế đã làm cho đời sống người dân phát triển, kéo theo sự thay đổi nhiều mặt trong từng hộ gia đình đến toàn địa phương. Hộ nghèo giảm còn 0,8%, tỷ lệ tăng dân số giảm còn 0,9%, gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa là 89%, đường làng ngõ xóm được bê tông hóa.194] Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển theo hướng tích cực. Ngoài khu trung tâm chợ Ghẽ đã hình thành nhiều điểm buôn bán tại chỗ ở các khu đân cư, tạo nên mạng lưới dịch vụ thuận tiện cho người tiêu dùng. Do công nghiệp hoá nhanh dẫn đến nhiều loại hình dịch vụ phát triển mạnh đó là: dịch 15 vụ vận tải, dịch vụ ăn uống, dịch vụ nhà trọ.
tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động khi đã giao ruộng cho Nhà nước. Trên lĩnh vực giao thông, hơn 10 km đường Quốc lộ 5 con đường hết sức chiến lược không những đối với địa phương mà còn là con đường huyết mạch của Tô quốc.