Chương I TONG QUAN VE XA HA MO VA NHAN VAT PHUNG THO 1. Tổng quan về xã Ha Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử 1. Điều kiện tự nhiên Xã Hạ Mỗ ngày nay gồm hai thôn Hạ Mỗ và Trúng Đích, phía Bắc giáp. hai xã Trung Châu và Hồng Hà, Đông giáp hai xã Liên Hồng và Liên Hà, Tay giáp xã Trung Châu và Thượng Mỗ, Nam giáp xã Tân Hội.
Từ xa xưa vào thế kỷ thứ VI, Hạ Mỗ có tên là trang Phú Lộc sau đó là hương Ô Diên. Thế kỷ VI, Hậu Nam Dé, Lý Phật Tử lập thành trì ở đây nên có tên là thành Ô Diên. Trong Đại Việt địa dư toàn biên (Nguyễn Văn Siêu) ghi: "Đời Tủy đổi đặt Giao Chỉ thuộc Giao Châu. Đời Đường, năm Vũ Đức thứ 4 lại đặt Giao Chau 6 day, lại chia đặt ba huyện là Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập.
Lấy sông Từ Liêm (sông Nhuệ) đặt tên gọi là Từ Châu. Năm thứ 6, đổi sọi là Nam Từ Châu. Đầu năm Trinh Quán bỏ châu, ba huyện lại thuộc Giao Chỉ”. Như vậy tên Ô Diên xưa còn được gọi tên cho một huyện.
Diên thuộc huyện Vĩnh Khang, phủ Ứng Thiên thời Lý, đến thời Trần thuộc huyện Vĩnh Thuận (hoặc Từ Liêm) phủ Đông Đô. Từ đầu thế kỷ XIX, Hạ Mỗ. thuộc tổng Thượng Hội, còn Trúng Đích thuộc xã Thượng Trì huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trắn Sơn Tây. Đầu thế kỷ XX, Hạ Mỗ và Trúng Đích đều thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Từ giữa thế kỷ XX trở về trước xã Hạ Mỗ gồm hai thôn là Hạ Mỗ (tục gọi Mỗ Hạ) và n Tân (tục gọi Mồ Bến). Sau cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chồng thực dân Pháp, Hạ Mỗ thuộc xã Hồng Thái (nay là 3 xã Hạ Mỗ, Hồng Hà, Thượng Mổ) còn Trúng Đích thuộc xã Liên Trì, huyện Liên Bắc (trước 1953), Đan Phượng (từ 1953 về sau) tỉnh Hà Đông. 13 Nam 1956, hai làng Hạ Mỗ và Trúng Đích sát nhập thành một xã và lấy tên là xã Hồng Thái. Năm 1972, xã Hồng Thái đổi tên thành xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, sau đổi thành tỉnh Hà Tây (1965), Ha Son Binh (1976), Hà Nội (1979), Hà Tây (1991), từ tháng 8/2008 đến nay lại thuộc về Hà Nội.
Xã Hạ Mỗ hiện nay chia thành 10 cụm dân cư: cụm số 1 đến cụm số § thuộc thôn Hạ Mỗ, cụm số 9 và số 10 thuộc thôn Trúng Đích. Di tích đền Van Hiến nằm về phía Tây, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 30km. Đi đến di tích, khách tham quan có thể đi theo đường Tràng Thi - Nguyễn Thái Học - Cầu Giấy. Đi tiếp theo đường 32 qua Thị trấn Trôi (Hoài Đức) tới Thị trấn Phùng.
rẽ tay phải theo đê quai sông Hồng khoảng 4km là tới địa phận thôn Hạ Mỗ, di tích Văn Hiến Đường thuộc cụm dân cư số 3. Xã Hạ Mỗ trong lịch sử vàng đắt Hà Nội Căn cứ vào chính sử thì Hạ Mỗ đã có hơn 1. Năm 557 Triệu Việt Vương đã cho Lý Phật Tử vùng này làm căn cứ. Trong thời kỳ nhà nước Vạn Xuân chống quân xâm lược Tùy, người dân Hạ Mỗ đã cùng với quân dân cả nước chiến đấu anh dũng.
Tham gia đội quân của Thái úy Tô Hiến Thành dẹp phản loạn ở biên giới phía Bắc và dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu phía Nam, buộc chúng phải thuần phục uy danh Đại Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử của đắt nước qua các triều đại khác nhau nhân dân Hạ Mỗ vẫn một lòng đoàn kết chống giặc ngoại xâm. “Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Hạ Mỗ còn có nhiều người con đã hi sinh trên mảnh đất này để bảo vệ xóm làng, đất nước tiêu biểu có sư cụ Thích Thanh Trang, trụ trì chùa Hải Giác là Hữu quân Chánh tướng của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - liệt sĩ Lê Thao (1929 - 1950). 14 140 người con đã hi sinh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và 16 bà mẹ Việt Nam anh hùng là những tắm gương sáng để lại trong lòng người dân Hạ Mỗ đời đời ghi nhớ công ơn.
Dân cực “Hạ Mỗ là miễn đất cỗ”, có bể dày lịch sử văn hóa lâu đời. Ngay từ thế kỷ VI tức là cách ngày nay trên 1400 năm, Hạ Mỗ đã đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân dưới triều Hậu Lý Nam Đề, Ly Phật Tử. 'Từ đó có thể nhận định về tỉnh hình cư dân ở vùng đất này. “Trong lịch sử hình thành, người Việt từ vùng trung du tràn xuống khai thác vùng đồng bằng thấp đã để lại một hệ thống thành thị gắn với những bước.
phát triển của lịch sử, xã hội: Thành Cổ Loa, thành Ô Diên, thành Long Biên, Thăng Long cùng một số thành khác,. Trong mối tương quan này, thành Ô Diên nằm gần khu vực ngã ba giao hòa giữa hai con sông: sông Hồng và sông. Đáy - hai con sông là đường giao thông huyết mạch, đồng thời là đường trung. chuyển và giao lưu văn hóa của vùng này với khu vực thượng nguồn.
Như vậy, thành Ô Diên cùng với thành Cổ Loa được coi như thành quách mang tính chat “cột mốc văn hóa” đánh dầu lãnh thổ trên con đường tiến xuống vùng đồng bằng. thấp thuộc châu thổ Bắc bộ của cư dân Việt. Sự hình thành và phát triển của thành cổ Ô Diên cũng là quá trình hình thành và phát triển của làng Hạ Mỗ trong. suốt tiến trình lịch sử của dân tộc.
Người dân làng Hạ Mỗ xưa nay vẫn tự hào về con người và mảnh đất quê hương qua câu: “Lang chúng tôi Đề vương đất cũ Người chúng tôi Tế phụ ngày xưa” Và: “Đất này là đất có đô. Người trung, trung tự thuở xưa đến giờ”. 15 Hom 15 thé ky trôi qua, mảnh đất Ô Diên ngày xưa - Hạ Mỗ ngày nay, ngày càng chuyển biến theo xu hướng phát triển của xã hội. Dân số Hạ Mỗ đông dần, họ sống gắn bó với quê hương, chung sức xây dựng đắt nước.
Hiện nay theo thống kê của Ban Văn hóa xã Hạ Mỗ thì toàn xã có 50 dòng họ. Trong đó làng Hạ Mỗ có 37 dòng họ, dựa theo các cuốn gia phả một số dòng họ ở làng Hạ Mỗ như họ Tô, Nguyễn Thế, Nguyễn Khắc, Bùi Quang. Họ Tô là dòng họ lâu đời nhất ở làng Hạ Mổ, tuy nhiên con cháu. dong ho Tô bao đời nay đều đi lập nghiệp ở nơi khác cho nên hiện nay số đỉnh của họ Tô chỉ có 40 người.
Bên cạnh đó thì gia phả dòng họ Nguyễn Thế, Nguyễn Khắc, Bùi Quang đều ghi chép cho biết cụ Tô của các ho đã đến đây lập nghiệp và dựng họ được trên 300 năm. Họ Nguyễn Thế hiện nay có 350 suất đinh, Nguyễn Khắc và Bùi Quang có 300 suất đỉnh. Lý giải cho vấn đề này các cụ cao niên trong làng cho biết tuy số họ trong xã nhiều nhưng chủ yếu là người dân tứ phương về đây từ đầu thế kỷ 20, đặc biệt là bộ đội sau kháng chiến chống Thực dân Pháp và Dé quốc Mỹ đã ở lại đây lập nghiệp. Mặc dù hiện nay với sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân xã Hạ Mỗ cũng khác trước, tốt hơn nhưng các dòng họ trong làng chỉ có nhà thờ họ là những căn nhà cấp 4.
Kinh tế + Nông nghiệp Ha M6 là một xã thuần nông, diện tích đất canh tác hiện có 388,Sha với dân số 7571 khẩu, bình quân 276m? một nhân khẩu. Đất hẹp, người đông nhưng với tỉnh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, trong thăng trầm. của lịch sử, mọi khó khăn thử thách người Hạ Mỗ đều đã vượt qua, từng bước xây dựng xóm làng tiến lên những bước mới, hoàn thành mọi nhiệm vụ, đóng sóp sức người, sức của xây dựng quê hương, bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa do cha ông ta để lại 16 “Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quân sự năm 2015 của UBND xã Hạ Mỗ: “Tổng diện tích gieo trồng S68,32 ha. Diện tích gieo cấy 188,5 giảm 34,5 ha so với cùng kỳ năm trước do một số diện tích chuyển đổi sang trồng hoa.
Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 1.182,3 tấn giảm 281,1 tắn so với năm trước. Diện tích cây đậu tương6 ha năng suất ước đạt 18 tạ/ha; diện tích trồng hoa 253,16ha tăng 64,76ha so với năm trước; rau các loại 41,3ha; cây ăn quả các loại 75,26ha”. 'Về chăn nuôi (tinh tại thời điểm 01/10/2015): Tổng đản Lợn là 3,233 con. Đản thủy cầm, gia cằm nuôi thịt và lấy trứng có 24.
Vit 4180 con, dan Ga sinh sản 4.227 con, Gà thương phẩm 15.365 con, Ngan 775 con. Tổng số Trâu, Bò 27 con. Tổ chức tiêm phòng hai đợt cho đàn gia súc, gia cằm, phun thuốc khử trùng, tiêu độc đường làng, ngõ xóm, nơi công công. Làm tốt công tác kiểm soát giết mô, kiểm tra thú y.
+ Tiểu thủ công nghiệp 'Nhân dân Hạ Mỗ đã sớm kết hợp được nên kinh tế tự cung tự cấp với việc trao đổi hàng hóa với các vùng xung quanh nên phát triển một số nghề thủ công như mộc, nề, làm gạch ngói, ép mía mật. 'Hạ Mỗ có nghề thêu ren xuất khâu, nghề du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuy là một nghề mới nhưng người Hạ Mỗ đã làm cho nghề thêu ren phát triển mạnh. Trước kia ngoài nghề nông, Hạ Mỗ vẫn là một làng làm các mặt hàng thêu ren xuất khẩu của Hà Nội.
Ren (còn gọi là Gien vơ ni): Da từng có thời gian, người dân Hạ Mỗ đi khắp nơi dé dạy nghề. Tuy nhiên, do thị trường xuất khẩu bị bó hẹp nên nghề này đến nay đã bị mai một. Nghề nấu rượu ở Hạ Mỗ đã tồn tại từ bao đời nay và ngon có tiếng. Đây là loại rượu rất thơm, có độ cồn cao (tối thiểu 48% độ cồn) nhưng không, bao giờ khiến người uống bị đau đầu.
Chất lượng luôn ngon nhất vùng có lẽ cũng bởi bản chất thật thà của người dân ở đây. 17 Nghề làm Nem: Khác hoàn toàn với Nem Phùng (một loại Nem nổi tiếng khác cũng ở huyện Đan phượng) được làm từ bì heo, Nem Hạ Mỗ có thành phần chủ yếu là thịt nạc loại ngon nhất và nem thính nên ăn rất ngọt. Nghề làm Đậu phụ: Đậu phụ Hạ Mỗ ngon nồi tiếng, hàng ngày cung cấp một số lượng lớn cho thị trường Hà nội. Đặc điểm bìa đậu (dân địa phương gọi là khăn đậu) to, mềm nhưng không nát.