Tổng quan nghiên cứu

Vùng đất cổ Hạ Mỗ mang bề dày lịch sử hơn 1.400 năm, từng là trung tâm thành Ô Diên - kinh đô của nhà nước Vạn Xuân vào năm 557 dưới triều Hậu Lý Nam Đế. Trong không gian lịch sử trầm tích đó, đền Văn Hiến là nơi phụng thờ Thái úy Tô Hiến Thành (1102 - 1179), danh thần kiệt xuất phụ chính qua 3 triều vua Lý, người có công lao to lớn trong công cuộc giữ yên biên cương và mở mang bờ cõi. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin chính thức xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 02 tháng 10 năm 1991 theo Quyết định số 1728/VH-QĐ.

Tuy nhiên, trước sức ép mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa và tác động của thời gian, không gian cảnh quan cùng nhiều giá trị văn hóa truyền thống tại di tích đang đối mặt với nguy cơ biến đổi. Các công trình công bố trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả tóm lược lịch sử hoặc khảo tả đơn lẻ từng hạng mục kiến trúc mà chưa có sự đánh giá toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học. Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống di vật, khảo tả kết cấu quần thể kiến trúc hơn 150m² và phân tích chiều sâu diễn trình lễ hội truyền thống diễn ra hàng năm.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trong không gian văn hóa xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội (cách trung tâm thủ đô khoảng 30km) trong khung thời gian từ khi khởi dựng đền vào năm 1928 đến năm 2016. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật vững chắc, giúp chính quyền địa phương quản lý hiệu quả cộng đồng cư dân 50 dòng họ với 7.571 nhân khẩu, đồng thời nâng cao từ 30% đến 40% hiệu quả khai thác các giá trị văn hóa tâm linh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hệ thống văn hóa và lý thuyết nhân học văn hóa nhằm xem xét di tích đền Văn Hiến và lễ hội truyền thống như một thực thể văn hóa sống động, nơi các yếu tố vật chất và tinh thần gắn kết chặt chẽ với đời sống cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước. Bên cạnh đó, lý thuyết cảnh quan văn hóa và không gian thiêng được khai thác triệt để nhằm giải mã mối tương quan phong thủy giữa công trình kiến trúc cổ với dòng chảy sông Nhuệ cổ, phản ánh tư duy tụ thủy tụ phúc và sự cân bằng âm dương của người Việt cổ.

Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm then chốt: Di sản văn hóa vật thể (thể hiện qua hệ thống kiến trúc gỗ lim, đồ tự khí, điêu khắc dân gian), Di sản văn hóa phi vật thể (thể hiện qua các nghi thức tế lễ, tập tục truyền thống, trò chơi dân gian), Không gian văn hóa làng xã (môi trường dung chứa và nuôi dưỡng di sản) và Phúc thần làng xã (biểu tượng bảo trợ tâm linh gắn với công trạng của danh nhân Thái úy Tô Hiến Thành).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đa tầng, bao gồm tư liệu Hán Nôm nguyên bản từ văn bia Văn Hiến Đường bi ký (dựng ngày 28 tháng 7 năm 1928), các bộ chính sử kinh điển như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, cùng 25 bài tham luận khoa học trong Kỷ yếu hội thảo Danh nhân Tô Hiến Thành năm 1999 và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội địa phương năm 2015.

Về quy mô khảo sát, tác giả tiến hành đo vẽ, khảo tả hiện trạng kỹ thuật trên 100% diện tích các đơn nguyên kiến trúc đền Văn Hiến (gồm Nghi môn, Tiền tế 60m², Đại bái 64m², Hậu cung 26m²). Về dữ liệu định tính, luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 30 người (độ tuổi từ 50 đến 85 tuổi) là các cụ cao niên, thủ từ, nghệ nhân dân gian, đại diện Ban Quản lý di tích và trưởng các dòng họ lâu đời tại địa phương để thực hiện phỏng vấn sâu.

Phương pháp phân tích liên ngành Văn hóa học (kết hợp sử liệu học, mỹ thuật học, bảo tàng học, dân tộc học và xã hội học) được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc đối chiếu, so sánh giữa văn bản học và dữ liệu điền dã thực tế, giúp tái hiện sinh động cả hình hài kiến trúc lẫn đời sống tâm linh của di tích. Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được thực hiện liên tục trong 18 tháng, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định đền Văn Hiến sở hữu bố cục mặt bằng hoàn chỉnh theo kiểu Tiền chữ nhất, hậu chữ đinh với tổng diện tích thờ tự hơn 150m². Điểm độc đáo nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa công trình khởi dựng năm 1928 (gồm Đại bái 64m² và Hậu cung 26m²) với tòa Tiền tế 60m² (5 gian 2 dĩ) được nhân dân tôn tạo bổ sung vào năm 2005. Toàn bộ khung nhà sử dụng gỗ lim nguyên khối với hệ thống cột cái cao tới 5,3m, đường kính 0,5m và các bộ vì kèo biến thể giá chiêng - chồng rường con nhị mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn.

Thứ hai, nghiên cứu đã thống kê và phân loại hệ thống di vật tại đền thành 5 nhóm chất liệu chính gồm gỗ, giấy, đồng, gốm sứ và vải. Giá trị lịch sử nổi bật nhất thuộc về tấm bia đá xanh Văn Hiến Đường bi ký dựng năm 1928 ghi chép nguồn gốc xây dựng đền, lịch sử bộ sách Cổ kim truyền lục, cùng hệ thống câu đối 11 chữ Hán ca ngợi vùng đất địa linh nhân kiệt.

Thứ ba, đền Văn Hiến giữ vị trí hạt nhân trong mạng lưới hơn 200 di tích phụng thờ Tô Hiến Thành trên phạm vi toàn quốc (trải dài tại Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa). Tại địa bàn xã Hạ Mỗ, ngôi đền hợp cùng Đình Vạn Xuân (diện tích hơn 700m²) và Chùa Hải Giác (lưu giữ hơn 200 pho tượng phật) tạo thành quần thể 3 di tích quốc gia liên hoàn mang giá trị lịch sử hiếm có.

Thứ tư, khảo sát thực tế cho thấy cơ cấu kinh tế Hạ Mỗ năm 2015 có sự chuyển dịch rõ rệt khi diện tích trồng hoa đạt 253,16 ha (tăng 34,4% so với giai đoạn trước) trong khi diện tích cấy lúa giảm xuống 188,5 ha. Sự thay đổi sinh kế nông nghiệp đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc bảo tồn không gian diễn xướng của 3 ngày lễ hội chính (từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng) cùng các trò chơi dân gian như thi nấu cơm trên thuyền, bắt vịt dưới nước và đấu cờ người.

Thảo luận kết quả

Sức sống bền bỉ của di tích đền Văn Hiến bắt nguồn từ truyền thống hiếu học, đạo lý tôn sư trọng đạo và sự ngưỡng vọng tuyệt đối của nhân dân đối với tấm gương liêm chính, vì nước quên thân của Thái úy Tô Hiến Thành. Các dữ liệu về hiện trạng kiến trúc, niên đại hiện vật và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương có thể được minh họa trực quan thông qua bảng thống kê kích thước cấu kiện gỗ và biểu đồ cơ cấu diện tích canh tác để người đọc dễ dàng so sánh quy mô.

So với các công trình nghiên cứu trước đây vào các năm 1991 hay 2015 vốn chỉ khảo sát bề mặt, nghiên cứu này đã chỉ rõ tính liên kết chặt chẽ giữa kiến trúc vật thể với các quy ước văn hóa làng xã (như Hương ước năm 1904 và Quy ước làng năm 2012). Kết quả nghiên cứu khẳng định đền Văn Hiến không chỉ là một công trình thờ tự đơn thuần mà còn là trung tâm giáo dục nhân cách, đạo đức công vụ và niềm tự hào khoa bảng của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tiến hành khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt và số hóa 100% hồ sơ khoa học di vật: Ủy ban nhân dân xã Hạ Mỗ phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội triển khai gắn mã định danh, lập hồ sơ ảnh kỹ thuật số và thực hiện các biện pháp phun hóa chất chống mối mọt định kỳ cho hệ thống cột gỗ lim cao 5,3m và các bản sắc phong quý hiếm, hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2020.

Thứ hai, chuẩn hóa kịch bản lễ hội và phục dựng các trò chơi dân gian truyền thống: Ban Quản lý di tích phối hợp cùng Hội người cao tuổi địa phương duy trì nền nếp 3 ngày hội chính (từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng), phục dựng nguyên bản hội thi nấu cơm truyền thống và trò bắt vịt trên sông cổ nhằm thu hút trên 10.000 lượt du khách tham quan mỗi năm, thực hiện bắt đầu từ mùa hội xuân năm 2018.

Thứ ba, thiết lập tuyến du lịch văn hóa di sản liên kết vùng: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đan Phượng chủ trì xây dựng tour du lịch kết nối cụm 3 di tích quốc gia (Đền Văn Hiến - Đình Vạn Xuân - Chùa Hải Giác) với các làng nghề ẩm thực truyền thống (rượu Hạ Mỗ nồng độ 48 độ cồn, nem thịt nạc, đậu phụ), hướng tới mục tiêu tăng trưởng doanh thu dịch vụ du lịch địa phương đạt từ 25% đến 30% vào năm 2022.

Thứ tư, đẩy mạnh chương trình giáo dục di sản học đường: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đan Phượng phối hợp với chính quyền xã biên soạn tài liệu ngoại khóa về danh nhân Tô Hiến Thành và lịch sử thành cổ Ô Diên, tổ chức các buổi học tập trải nghiệm thực tế tại đền cho 100% học sinh các trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn theo chu kỳ mỗi học kỳ một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà nghiên cứu văn hóa, sử học và bảo tàng học: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu Hán Nôm thực chứng, các bản vẽ khảo tả chi tiết về kết cấu kiến trúc thời Nguyễn và mô hình tín ngưỡng thờ phụng danh nhân lịch sử thời Lý trong không gian châu thổ sông Hồng.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở: Công trình mang lại khung giải pháp quản lý di sản thực tiễn, hỗ trợ công tác quy hoạch, điều hành lễ hội và bảo tồn quần thể 3 di tích quốc gia tại địa phương có hơn 50 dòng họ cùng chung sống.

Nhóm thứ ba gồm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn hóa học, Di sản học: Tài liệu đóng vai trò như một nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát điền dã liên ngành, kỹ thuật xử lý dữ liệu hiện vật và phương pháp luận tiếp cận không gian văn hóa làng xã cổ truyền.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch: Dữ liệu lịch sử, kiến trúc và lễ hội trong luận văn là nguồn chất liệu phong phú để thiết kế các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh kết hợp trải nghiệm ẩm thực làng nghề ven sông Đáy và sông Nhuệ.

Câu hỏi thường gặp

Đền Văn Hiến thờ ai và được xếp hạng di tích quốc gia vào thời gian nào? Đền Văn Hiến là nơi phụng thờ Thái úy Tô Hiến Thành (1102 - 1179), vị đại thần tài đức vẹn toàn triều Lý, cùng các bậc tiên hiền khoa bảng của làng Hạ Mỗ. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 1728/VH-QĐ vào ngày 02 tháng 10 năm 1991.

Kiến trúc đền Văn Hiến có những điểm gì đặc sắc? Đền mang bố cục mặt bằng theo kiểu Tiền chữ nhất, hậu chữ đinh với tổng diện tích hơn 150m². Điểm nổi bật là bộ khung chịu lực bằng gỗ lim nguyên khối với cột cái cao 5,3m và hệ thống vì kèo kết cấu theo phong cách biến thể giá chiêng - chồng rường con nhị chạm khắc rồng phượng tinh tế.

Lễ hội đền Văn Hiến diễn ra vào thời gian nào và có hoạt động gì nổi bật? Lễ hội truyền thống diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội nổi bật với các nghi lễ rước kiệu, tế lễ trang nghiêm cùng nhiều trò diễn dân gian đặc sắc như thi nấu cơm trên thuyền, bắt vịt và đánh cờ người.

Mối liên hệ lịch sử giữa đền Văn Hiến và thành cổ Ô Diên là gì? Đền tọa lạc tại xã Hạ Mỗ, nguyên là đất thành cổ Ô Diên - kinh đô của nhà nước Vạn Xuân từ năm 557 thời Hậu Lý Nam Đế. Vị trí đền nằm bên dòng sông Nhuệ cổ, là nhân chứng tiêu biểu cho quá trình định cư và phát triển văn hóa hơn 1.400 năm của cư dân bản địa.

Luận văn đóng góp những giải pháp trọng tâm nào cho địa phương? Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể: số hóa 100% hồ sơ di vật và chống mối mọt cho hệ thống gỗ lim; chuẩn hóa quy trình tổ chức lễ hội 3 ngày mùa xuân; xây dựng tour du lịch kết nối 3 di tích quốc gia; và đưa di sản vào giảng dạy cho 100% trường học trên địa bàn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành đền Văn Hiến gắn liền với bề dày văn hóa hơn 1.400 năm của vùng đất cổ Ô Diên.
  • Khảo tả chi tiết không gian kiến trúc gỗ lim độc đáo rộng hơn 150m² cùng hệ thống 5 nhóm di vật quý giá có niên đại từ năm 1928.
  • Làm sáng tỏ giá trị nhân văn sâu sắc của diễn trình lễ hội 3 ngày tháng Giêng tôn vinh tấm gương trung nghĩa của Thái úy Tô Hiến Thành.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp bảo tồn khoa học, đồng bộ, phù hợp với định hướng của Luật Di sản Văn hóa.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2017 - 2025 nhằm biến đền Văn Hiến thành điểm đến du lịch văn hóa trọng điểm của huyện Đan Phượng.

Công trình nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận thực tiễn trong việc gắn kết giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế du lịch nông thôn mới. Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng hiệu quả vào công tác quản lý, giảng dạy và phát triển các sản phẩm du lịch di sản bền vững.