Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di tích thời đại Hùng Vương tại tỉnh Phú Thọ là không gian lưu giữ đậm đặc các giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Trong tổng thể mạng lưới di sản đó, di tích đền Lăng Sương tọa lạc tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giữ vị trí đặc biệt quan trọng và đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT ngày 12/7/2005 của Bộ Văn hóa - Thông tin. Xã Trung Nghĩa sở hữu diện tích tự nhiên 7,57 km² với quy mô dân số hơn 3.600 người phân bố tại 6 thôn làng truyền thống. Nơi đây được huyền tích và thần phả ghi nhận là quê hương, nơi sinh ra và nuôi dưỡng Thánh Tản Viên – vị thần đứng đầu hàng Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực tiễn biến đổi sâu sắc của không gian văn hóa truyền thống dưới áp lực của quá trình đô thị hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 11%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015 đã thúc đẩy đời sống vật chất nhưng đồng thời tạo ra những biến dạng về cảnh quan kiến trúc cũng như nguy cơ mai một các nghi thức lễ hội cổ truyền. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát toàn diện diện mạo kiến trúc nghệ thuật, giải mã cấu trúc diễn trình lễ hội, phân tích các lớp trầm tích văn hóa tín ngưỡng và đánh giá thực trạng biến đổi của di tích đền Lăng Sương.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian văn hóa xã Trung Nghĩa ven tả ngạn sông Đà, kéo dài theo dòng thời gian lịch sử từ thời Thục Phán An Dương Vương, qua các đợt trùng tu lớn năm 1848, 1991, 2007 cho đến nay. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác quản lý di sản, góp phần gia tăng từ 20% đến 30% hiệu quả khai thác kinh tế du lịch văn hóa bền vững cho địa phương, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn tính thiêng và bản sắc của không gian văn hóa Tản Viên Sơn Thánh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường được phát triển bởi các học giả đầu ngành văn hóa học Việt Nam, kết hợp cùng lý thuyết cấu trúc - chức năng trong nghiên cứu lễ hội cổ truyền. Khung lý thuyết này cho phép xem xét di tích và lễ hội như một chỉnh thể hữu cơ vận động không ngừng dưới tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội.

Hệ thống khái niệm công cụ được xây dựng chặt chẽ bao gồm năm thuật ngữ cốt lõi:

  1. Di tích lịch sử - văn hóa: Công trình vật chất hàm chứa các giá trị kiến trúc nghệ thuật và dấu ấn lịch sử qua các thời kỳ.
  2. Không gian thiêng và không gian thường nhật: Sự phân định ranh giới giữa khu vực thực hành nghi lễ tôn giáo tôn nghiêm và khu vực sinh hoạt văn hóa dân gian cộng đồng.
  3. Sự biến đổi văn hóa: Quá trình chuyển dịch về hình thức cấu trúc vật chất và nội dung thực hành nghi lễ do các yếu tố nội sinh và ngoại sinh chi phối.
  4. Tính cố kết cộng đồng: Năng lực tập hợp, kết nối tình làng nghĩa xóm và tạo dựng tinh thần đoàn kết liên giáp, liên thôn thông qua hoạt động lễ hội.
  5. Cân bằng đời sống tâm linh: Chức năng giải tỏa ức chế tâm lý, mang lại điểm tựa tinh thần và đáp ứng khát vọng an lành, thịnh vượng của người dân lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa tư liệu thư tịch Hán Nôm cổ (Ngọc phả đền Lăng Sương, văn bia thời Tự Đức năm thứ nhất 1848) và nguồn dữ liệu thực địa điền dã dân tộc học. Khảo sát thực địa được triển khai liên tục từ năm 2011 đến năm 2016 tại 6 thôn của xã Trung Nghĩa, kết hợp quan sát tham dự trực tiếp các kỳ lễ hội chính vào các ngày 14, 15 và 16 tháng Giêng âm lịch.

Cỡ mẫu nghiên cứu định tính bao gồm 15 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan trọng yếu: đại diện Ban quản lý di tích xã, cán bộ phụ trách văn hóa huyện Thanh Thủy, các cụ thủ từ cao niên trực tiếp trông nom đền như cụ Tăng Văn Tuất, cụ Giang Đình Quý, cùng các bậc cao niên am hiểu phong tục tại các giáp Đông và giáp Tây. Đồng thời, tác giả thu thập 120 phiếu điều tra bảng hỏi đối với người dân địa phương và khách hành hương để đo lường mức độ tiếp nhận văn hóa.

Phương pháp phân tích liên ngành được lựa chọn làm trục nghiên cứu chủ đạo, tích hợp tri thức giữa Văn hóa học, Bảo tàng học, Lịch sử học và Mỹ thuật học truyền thống. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất phức hợp của đối tượng nghiên cứu: đền Lăng Sương vừa là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ cổ truyền, vừa là một không gian thiêng dung chứa di vật lịch sử, đồng thời là trung tâm diễn xướng văn hóa phi vật thể của cộng đồng cư dân vùng đất bán sơn địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu mang lại ba nhóm phát hiện quan trọng về cấu trúc vật thể và phi vật thể của đền Lăng Sương:

Thứ nhất, về giá trị kiến trúc nghệ thuật và di vật cổ, đền Lăng Sương hiện nay mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn với bố cục mặt bằng hình chữ Đinh. Tòa Đại bái gồm 3 gian 2 chái xây tường hồi bít đốc, có chiều dài 12,1m, chiều rộng lòng nhà 6,7m, nền cao hơn mặt sân 60cm. Bộ khung chịu lực liên kết bởi 4 bộ vì kết cấu chồng rường giá chiêng với 6 hàng chân cột; cột cái có chiều cao 4,1m, chu vi 1,59m; cột quân cao 3,1m, chu vi 1,13m. Mái đền lợp ngói mũi hài chiếm tới 2/3 chiều cao tổng thể công trình, trang trí bờ nóc đắp nổi đề tài "Lưỡng long chầu nhật" kết hợp hình tượng linh vật Macara ngậm đầu nóc mang biểu trưng văn hóa lúa nước. Đền còn lưu giữ hệ thống di vật quý giá gồm bia đá thời Tự Đức năm thứ nhất (1848), các sắc phong cổ, chuông đồng và các bức cửa võng chạm khắc đề tài tứ linh, đào hóa long tinh xảo.

Thứ hai, về diễn trình lễ hội truyền thống, lễ hội chính diễn ra trong 3 ngày từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Giêng âm lịch nhằm kỷ niệm ngày sinh của Đức Thánh Tản, cùng ngày lễ Mẫu hóa vào 25 tháng 10 âm lịch. Cơ cấu nhân sự thực hành nghi lễ được tổ chức rất quy chuẩn với Ban tế nam gồm 14 người (1 chủ tế, 2 bồi tế, 1 xướng tế, 10 quan viên), đội chạy quân hơn 20 thanh niên, đội múa sênh tiền gồm 12 thiếu nữ độ tuổi 15 - 18, và đội cồng chiêng gồm hơn 10 nghệ nhân nữ. Lễ vật tế thần duy trì nghiêm ngặt tục nuôi 9 con lợn tế sạch sẽ do giáp Đông (5 con) và giáp Tây (4 con) cung tiến. Phần hội tổ chức sinh động các trò chơi dân gian như ném còn (với cây tre cao 8 - 10m, tâm vòng tròn đường kính 50 - 70cm), cờ tướng (bàn cờ 90 điểm, 32 quân cờ) và bịt mắt bắt dê.

Thứ ba, về thực trạng biến đổi di tích và môi trường văn hóa, nghiên cứu chỉ ra rằng diện mạo đền đã trải qua nhiều giai đoạn thay đổi cấu trúc nghiêm trọng. Sau khi bị hư hại và dỡ bỏ trong các giai đoạn chiến tranh và biến động xã hội năm 1951 và 1968, đền được nhân dân phục dựng bằng tranh tre năm 1988, tôn tạo trên diện tích 300 m² năm 1991, và đến năm 2007 được Nhà nước đầu tư hơn 3 tỷ đồng để tái thiết toàn diện bằng khung gỗ lim. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế xã Trung Nghĩa (thương mại - dịch vụ tăng lên chiếm 34%, công nghiệp - xây dựng chiếm 14 - 15%, nông nghiệp giảm xuống 51 - 52%) đã thúc đẩy nguồn lực xã hội hóa nhưng cũng làm nảy sinh tâm lý phô trương, thương mại hóa dịch vụ lễ hội và nguy cơ sai lệch yếu tố nguyên gốc trong tu bổ di tích.

Dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch không gian và nhân sự lễ hội có thể được trực quan hóa thông qua bảng đối sánh diễn trình nghi lễ truyền thống - hiện đại và biểu đồ phân bổ cơ cấu kinh tế tác động đến mức độ tham gia lễ hội của cư dân địa phương.

+---------------------+-------------------------------+-------------------------------+
| Tiêu chí so sánh    | Lễ hội truyền thống (trước 1945)| Lễ hội hiện nay (giai đoạn mới)|
+---------------------+-------------------------------+-------------------------------+
| Chủ thể điều hành   | Lý trưởng, Hội đồng kỳ mục    | Ban Quản lý Di tích & UBND xã |
| Không gian thực hiện| Đền chính, sân đình, bãi ven sông| Khuôn viên mở rộng 300m², sân bê tông|
| Nguồn kinh phí      | Ruộng công tế điền, dân đinh đóng| Ngân sách Nhà nước, tiền công đức|
| Trò chơi dân gian   | Ném còn, cờ tướng, bịt mắt bắt dê| Bổ sung bóng chuyền, thi cắm trại|
+---------------------+-------------------------------+-------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của sự biến đổi kiến trúc và lễ hội đền Lăng Sương xuất phát từ sự tương tác hai chiều giữa nhu cầu hưởng thụ tâm linh ngày càng cao của người dân và năng lực quản lý di sản tại cơ sở. Sự thiếu vắng các chuẩn mực giám sát trùng tu chuyên ngành trong giai đoạn trước năm 2005 đã dẫn đến việc thay đổi vật liệu và hướng cổng đền từ trục chính đạo sang lệch hướng bên trái trước khi được nắn chỉnh lại.

So sánh với các không gian thờ Thánh Tản khác tại vùng đồi gò Ba Vì và hệ thống di tích thời Hùng Vương tại Lâm Thao, đền Lăng Sương nắm giữ tính chất độc nhất: đây là nơi thờ Thánh Mẫu và khởi nguồn sự tích Thần Tản Viên, đóng vai trò hoàn thiện trục không gian huyền thoại sông Đà - núi Tản. Về mặt giá trị xã hội, lễ hội đền Lăng Sương đóng vai trò là "thiết chế văn hóa kép", vừa củng cố tinh thần cố kết cộng đồng cho hơn 3.600 người dân địa phương, vừa thực hiện chức năng cân bằng đời sống tâm linh, giúp giải tỏa áp lực mưu sinh của xã hội hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Lăng Sương:

  1. Hoàn thiện quy hoạch không gian cảnh quan và kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động tu bổ: Ban Quản lý di tích phối hợp với cơ quan chuyên môn tiến hành số hóa 100% hồ sơ khoa học các di vật đá, sắc phong giấy và mộc bản trước năm 2020. Mọi hoạt động chỉnh trang hạ tầng như xây dựng nhà điều hành, tường bao phải tuân thủ nghiêm Luật Di sản văn hóa, giữ vững tỷ lệ không gian cây xanh và vùng đệm tâm linh quanh lăng Thánh Mẫu.

  2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cơ sở: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy và xã Trung Nghĩa cần tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo/năm về nghiệp vụ bảo tồn bảo tàng và kỹ năng quản trị lễ hội cho 100% nhân sự ban quản lý đền và các ông từ, thủ từ trực tiếp phụng dịch.

  3. Bảo tồn thực hành nghi lễ cổ truyền và khôi phục không gian trò chơi dân gian: Duy trì chuẩn mực nghi thức tế nam 14 người, bảo lưu tục dâng tế 9 con lợn sạch của hai giáp. Mở rộng quy mô các sân chơi dân gian truyền thống như ném còn, cờ tướng, thu hút ít nhất 40% lực lượng đoàn viên, thanh niên địa phương tham gia thực hành để trao truyền di sản bền vững qua các thế hệ.

  4. Xây dựng chuỗi liên kết phát triển du lịch văn hóa tâm linh bền vững: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ chủ trì kết nối đền Lăng Sương vào tour du lịch trọng điểm "Cội nguồn đất Tổ", liên kết tuyến đền Lăng Sương - khu nghỉ dưỡng khoáng nóng Thanh Thủy - Quần thể di tích Đền Hùng. Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng lượng khách du lịch hành hương từ 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2016 - 2025 gắn liền với việc chống thương mại hóa và giữ gìn vệ sinh môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thanh Thủy và Ủy ban nhân dân xã Trung Nghĩa sử dụng luận văn làm cơ sở dữ liệu thực chứng để xây dựng đề án quy hoạch bảo tồn di tích cấp quốc gia và quy chế tổ chức lễ hội an toàn, văn minh.

  2. Giới nghiên cứu học thuật chuyên ngành: Các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực Văn hóa học, Nhân học, Lịch sử học và Di sản học có thể khai thác hệ thống tư liệu Hán Nôm, thần phả, văn bia năm 1848 và nguồn dữ liệu điền dã thực tế về tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Tản Viên Sơn Thánh vùng trung du Bắc Bộ.

  3. Doanh nghiệp và chuyên gia phát triển du lịch: Các đơn vị lữ hành, quản lý điểm đến du lịch tham khảo mô hình liên kết không gian văn hóa lễ hội với các sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng để thiết kế các tour trải nghiệm di sản đặc sắc tại vùng ven sông Đà.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên đại học: Người học chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Du lịch học tiếp cận luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp nghiên cứu liên ngành trong việc phân tích sự biến đổi của di sản văn hóa truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Đền Lăng Sương có vị trí lịch sử như thế nào trong hệ thống di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh?

Đền Lăng Sương là di tích gốc độc nhất ghi dấu nơi sinh ra và nuôi dưỡng Đức Thánh Tản Viên cùng thân mẫu của Ngài. Khác với các đền thờ vọng ở vùng đồng bằng, đền Lăng Sương xác lập không gian cội nguồn gắn với thời đại Hùng Vương thứ 18 và được xếp hạng Di tích quốc gia năm 2005.

Lễ hội đền Lăng Sương diễn ra vào thời gian nào và có nghi thức gì đặc sắc?

Lễ hội chính tổ chức trong 3 ngày từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch, cùng lễ tưởng niệm Mẫu hóa ngày 25 tháng 10 âm lịch. Điểm đặc sắc là lễ rước nước thiêng từ sông Đà, nghi thức tế thần của ban tế 14 người, cùng màn múa sênh tiền của 12 thiếu nữ và múa cồng chiêng của phụ nữ địa phương.

Những biến đổi kiến trúc lớn nhất của đền Lăng Sương qua các thời kỳ lịch sử là gì?

Đền trải qua nhiều biến cố: bị dỡ bỏ do chiến tranh và nhận thức năm 1968, dựng lại bằng tranh tre năm 1988, mở rộng 300 m² năm 1991, và được đầu tư hơn 3 tỷ đồng xây dựng kiên cố bằng gỗ lim năm 2007, đồng thời cổng đền được nắn chỉnh về trục vuông góc nguyên bản.

Phần hội đền Lăng Sương lưu giữ những trò chơi dân gian tiêu biểu nào?

Phần hội duy trì ba trò chơi dân gian đặc sắc: ném còn trên cột tre cao 8 - 10m tượng trưng cho âm dương phồn thực, thi đấu cờ tướng trí tuệ 32 quân trên bàn cờ 90 điểm, và trò chơi tập thể bịt mắt bắt dê rèn luyện kỹ năng phán đoán nhanh nhạy.

Địa phương cần làm gì để phát triển du lịch gắn với di tích đền Lăng Sương mà không phá vỡ tính thiêng?

Địa phương cần quy hoạch bãi đỗ xe và khu dịch vụ tách biệt khỏi không gian thiêng của đền, số hóa tư liệu hiện vật, tập huấn văn hóa ứng xử cho 189 hộ kinh doanh dịch vụ, và kết nối tour nghỉ dưỡng khoáng nóng Thanh Thủy với mục tiêu tăng trưởng du khách 15 - 20%/năm.

Kết luận

  • Khẳng định giá trị cội nguồn độc nhất của di tích đền Lăng Sương trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Tản Viên Sơn Thánh vùng ven sông Đà.
  • Tổng kết toàn diện đặc trưng kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn qua tòa Đại bái 3 gian 2 chái và hệ thống di vật đá, gỗ, đồng quý giá.
  • Hệ thống hóa diễn trình lễ hội cổ truyền ngày 14 - 16 tháng Giêng với đầy đủ các thực hành nghi lễ và trò chơi dân gian giàu bản sắc.
  • Đánh giá khách quan thực trạng biến đổi di tích dưới tác động của kinh tế thị trường, chỉ ra những thách thức trong công tác tôn tạo và quản lý lễ hội.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025, định hướng kết nối di sản văn hóa với du lịch bền vững.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp bức tranh khảo sát thực địa toàn diện, khoa học về đền Lăng Sương, lấp đầy khoảng trống tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về di tích cấp quốc gia này. Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung số hóa 100% hiện vật và chuẩn hóa quy trình quản lý lễ hội. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý và bạn đọc quan tâm tiếp tục nghiên cứu, chung tay bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản văn hóa đền Lăng Sương trong đời sống đương đại.