Chương I TONG QUAN VE XA TRUNG NGHIA VA DEN LANG SUONG, HUYEN THANH THUY, TINH PHU THQ 1,1. Khái quát về xã Trung Nghia LLL. Vj tri dja lý và điều kiện tự nhiên “Trung Nghĩa là một xã trung du miền núi nằm bên tả ngạn sông Đà, phía Nam huyện Thanh Thủy. Với diện tích 752,6 ha (năm 201 1), p Bắc giáp xã Trung Thịnh và Đồng Luận; phía Nam giáp xã Phượng Mao; pl Tây giáp xã Thắng Sơn huyện Thanh Thủ : phía Đông giáp sông Đà, qua sông Đà là xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội.
Phía Đông Nam cách chừng Ikm đường chim bay là ngọn núi Tản Viên sừng sững bốn mùa mây phủ. Địa hình Trung Nghĩa thuộc vùng bán sơn địa, đổi gò núi cao xen lẫn các đãi đá vôi; phía Đông Nam 1a dai dit phi sa chạy dọc sông Đà và tỉnh lộ 317 qua địa bàn xã với chiều đài khoảng 3km đã tạo cho xã vẻ đẹp sơn thủy hữu tình. Xã Trung Nghĩa có con sông Đà chảy qua tạo thành tuyến giao thông đường thủy huyết mạch thuận lợi phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội với các vùng lân cận trong khu vực. Dòng sông còn là nơi đánh bắt nuôi ng thủy sản, cung cắp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, huyện Thanh Thủy nói chung. và xã Trung Nghĩa nói riêng mang sắc thái đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới âm gió mùa với 4 mùa rõ rệt. Nền nhiệt độ khá cao với nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-24°C. Số giờ nắng trong năm khoảng 3000-3200h.
Lượng mưa trung bình năm khoảng 1600-1800mm/năm. Độ ẩm khoảng 85%, Đặc trưng thời tiết 4 mùa xuân, hạ, thu, đông khác nhau, mỗi mùa mỗi thứ đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên, lễ hôi mang sắc thái riêng của vùng. thôn Phượng Mao thành xã riêng và nhập thêm xóm Việt Hùng thuộc thôn Đan Nghệ, xã Thắng Sơn, huyện Thanh Sơn. Năm 1966, xã Đề Thám gọi là xã Trung Nghĩa Nam 1968, hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành Vĩnh Phú, xã Trung Nghĩa thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Vĩnh Phú.
Năm 1978, hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy sát nhập thành huyện Tam Thanh. Năm 1997, tách tinh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, xã Trung Nghĩa thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ. Năm 1999 tách huyện Tam Thanh thành ‘Tam Nông và Thanh Thủy, xã Trung Nghĩa thuộc huyện Thanh Thủy. Hiện nay, xã Trung Nghĩa thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
1 Thanh phan dan cw Với địa hình và khí hậu thuận lợi, lại có con sông Đà ngày đêm chuyên chở phù sa bồi đắp nên những đồng bằng màu mỡ, vì thế cư dân sớm đến định cư và sinh sống lâu đài ở vùng này. Ban đầu Trung Nghĩa là vùng đất hoang sơ, cây cối um tìm, có nhiều thú dữ nên cư dân còn thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề săn bắt và hái lượm Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Trung Nghĩa gồm 250 hộ với 1200 nhân khẩu, chủ yếu sống bằng nghề nông. Trải qua nhiều biến động của lịch sử, dân số của xã ngày càng đông lên hình thành nên các làng xóm và dòng họ lớn như: Nguyễn Trần, Nguyễn Tự, họ Phạm. Sau cách mạng tháng.
Tám đến năm 1999, toàn xã có khoảng 3.494 người, mật độ 465 người/km” Trong những năm gần đây kinh tế phát triển, xu thế đô thị hóa cùng tác động của nền kinh tế thị trường đã và đang xóa dần khoảng cách giữa nông, thôn và thành thị. Vì ây, nhiều cư đân từ các tỉnh thành của mọi miền đất nước đã mua đất, lập nghiệp ở đây càng nhiều. Hiện nay, toàn xã có tổng diện tích 7,57kmẺ với dân số hơn 3.600 người, bao gồm 6 thôn: Đổi Chè, thôn Đình, thôn Chùa, Đồi Bằng, Lãng Vân và Lăng Sương. Bên cạnh đó, thành phan ting lớp trong xã hội ngày càng đa dạng như: giáo viên, nông dân, công.
nhân, thợ thủ công, nhà kinh doanh. nhưng nông dân chiếm số lượng lớn trong xã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống của làng xã vùng. đồng bằng Bắc Bộ. Đời sống kinh tế Nông nghiệp Trước cách mạng tháng Tám, Trung Nghĩa là vùng quê thuần nông, chủ yếu trồng lúa, ngô, khoai, sắn và một số cây công nghiệp như chè, trdu, sở, sơn, cọ ở vùng đổi, trồng dâu nuôi tằm ở vùng đất bãi ven sông.
Do mưa bão, lũ lụt và kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng, suất thấp, thậm chí mắt mùa nên có khoảng 90% dân cư ở vào tinh trạng thiếu ăn thường xuyên 8, tr. Ruộng đất chỉ có hàng đỉnh mới được chia, cứ 3 năm chia lại một lần theo ngôi thứ. Nông dân phan đông ít ruộng hoặc không có đất canh tác, lại không có nghề thủ công, nghề phụ nên phải đi làm thuê cấy rẽ cho nhà giàu hoặc đi canh điểm. Thời kỳ này, người nông dân bị thực dân, phong kiến bóc lột nặng nề bởi sưu cao, thuế nặng, chúng bắt nhân dân chặt ngô đang ra bắp non, phá lúa đang vào hạt để trồng đay, thầu dầu.
Đời sống của nhân dân khổ cực, “đa số nông dân sống trong cảnh nhà tranh, vách đất dột nát, đêm ngủ phải dùng bằng rơm rạ, lá chuối khô làm đêm, đấp chiếu che thân; ăn đói, mặc rách, cơm độn, củ chuối, củ mài, thậm. chí cả rau nghề trừ bữa” [§, tr.16] Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng, Nhà nước tiến hành cải cách ruộng đất và thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, thủy lợi được chú trọng nên đời sống nhân dân dần ồn định. Từ tháng 6 năm 1954 - tháng. 12 năm 1957, “xã đã cải tạo được 15 mẫu đất bãi, 12 mẫu trong đồng, trồng.
được 5 mẫu sơn, 14 mẫu sắn nâng tông số đất canh tác lên trên 300 mẫu, chưa kể hàng trăm mẫu. ất ven đồi, soi bãi được nhân dân tận dụng gieo trồng” [8, tr41]. Năm 1970, tổng sản lượng quy thóc đạt 185 „ bình quân lương thực tính theo đầu người đạt 12kg/tháng. Từ năm 1997, tông sản lượng lương thực.
quy ra thóc đạt 842 tắn; năm 1998, đạt 850 tấn.3 ha, năng suất 51. Ngoài trồng lúa cư dân còn trồng một số cây hoa màu và cây công nghiệp như: ngô, lạc, sắn, cây chè, sơn. Tính đến năm 2015, diện tích trồng.8 tạ/ha; ngô chiếm 106.4 ha đạt năng suất 54.2 tạ/ha; sẵn chiếm 43.5 ha đạt 236/250 tạ/ha. Các cây công nghiệp tuy chiếm số lượng ít nhưng cũng góp phần đáng kể vào cơ cấu kinh tế của xã.
Cây chè với diện tích 48 ha trong đó diện tích đang thu hoạch: 27.9 ha; sản lượng chè búp tươi: 54.1 tắn; năng suất bình quân đạt 700kg chè búp tươi/. sảo/năm, ước tính đạt giá trị 2. Chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản của xã có bước tiến mới. Quy mô và hình thức chăn nuôi được mở rộng theo hướng, đa dạng, chú trọng phòng trừ dịch bệnh nên không có dịch bệnh xảy ra.
Năm 2015, tổng đàn trâu, bò: 1.4% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn: 5.100 con dat 103%, ting 2% so với năm trước; đàn gia cầm: 39.6%, giảm 4% so với cùng kỳ; nuôi trồng thủy sản: 23.88 ha, sản lượng 46.5 so với năm trước. Thủ công nghiệp: Trước cách mạng tháng Tám, nghề thủ công chưa phát triển còn manh mún, sản xuất nhỏ lẻ “ngh thủ công nhỏ lẻ chủ yếu do dân ngụ cư (người nơi khác đến ở nhờ, không được nhập tịch và chia ruộng canh tác) đưa vào địa phương như: làm bánh keo, làm tương và buôn bán nhỏ. ở xóm trợ, khu bến nước” [8, tr. 5] Sau cách mạng tháng Tám đến 2015, sản xuất tiểu thủ công nghiệp của xã Trung Nghĩa tiếp tục phát triển với một số ngành nghề cơ bản như: sản xuất gạch, bê tông, xi măng, gò hàn, nhôm kính, chế biển gỗ, sản xuất đồ mộc gia dụng, nghề đan lát, làm đậu, nấu rượu.
Quy mô sản xuất nhỏ, đáp ứng nhu câu sản xuất tại chỗ và cung cấp một phần cho thị trường. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt bình quân 5. 'Bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, hoạt động dịch vụ thương mại cũng từng bước phát triển đem lại nhiều việc làm và thu nhập khá cho người dân. Toàn xã có 189 hộ tham gia kinh doanh dịch vụ, ước thu 14.
Đời sống nhân dân ngày càng khắm khá, nhà cửa khang. trang, không còn nhà tranh vách đắt mà thay vào đó là những ngôi nhà ngói, nhà mái bằng. Cơ sở hạ tang như điện, đường, trường, trạm đều được đảm bảo, đường làng ngõ xóm đã được bê tông hoá, nhiều cửa hàng, cửa hiệu về thực phẩm, may mặc, điện tử, cây xăng. mở đến tận thôn làng.
Hầu hết các gia đình đều có tivi, xe máy, con em được học hành, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và một lòng đi theo con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. ‘Tom lai, kinh tế xã Trung Nghĩa ngày càng phát triển, đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân và góp phần vào nền kinh tế nước nhà. năm gần đây (2010-2015), tốc độ phát triển kinh tế tăng trưởng 11%. lương thực duy trì ở mức 1.600 tấn; bình quân lương thực theo đàu người tir 420-430 kg/người/năm.
Về cơ cấu kinh tế đến năm 2015 được dịch chuyển theo. hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nông nghiệp cl ếm 51-52%; thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 14-15%; thương mại dịch vụ chiếm 34%. Văn hóa - xã hội * Tôn giáo, tin ngưỡng, ~ Tin ngưỡng “Tín ngưỡng ra đời từ rất sớm từ buổi sơ khai của loài người. Do nhận thức còn hạn chế con người không thẻ giải thích các hiện tượng tự nhiên như: mây, mưa, sắm, chớp, quy luật sinh diệt., họ cho rằng có một thế lực siêu nhiên tổn tại ở đâu đó trong không gian và chỉ phối họ, họ cho rằng vạn vật đều có linh hồn.
Tín ngưỡng nảy sinh xuất phát từ lòng thành kính và nỗi sợ hãi của con người. Cũng như nhiều vùng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ, xã Trung Nghĩa hiện nay còn bảo lưu khá nhiễu tín ngưỡng: xã Trung Nghĩa luôn đoàn kết, kiên cường vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thiếu thốn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1947-1954), chỉ bộ đã lãnh dao nhân dân tiến hành kháng chiến theo phương châm "toàn d |, toàn diện” của Đảng và đạt được nhiều chiến công. Cụ thể, trong hơn 6 năm trực tiếp.
đánh giặc trên quê hương, nhân dân Trung Nghĩa đã kiên cường bám trụ giữ. đất, giữ làng chiến đấu quyết liệt với quân thù.