Chương 1 của luận văn đã nêu lên một cách khái quát và ngắn gọn những vấn đề lý luận liên quan đến địa danh nói chung và địa danh nước ngoài nói riêng. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của Hoàng Thị Châu cho rằng địa danh là tên địa lí, là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình, tên nơi cư trú, tên hành chính,. được con người đặt ra. Qua những địa danh đó, chúng ta có thể nhận ra được những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị của một dân tộc.
Có thể chia địa danh thành 2 nhóm chính, đó là nhóm địa danh bản địa và địa danh nước ngoài. Nhóm địa danh nước ngoài là nhóm địa danh rất phức tạp, bởi vì nó liên quan đến những đặc trưng về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, xã hội, chính trị v. của các dân tộc khác trên thế giới và đối với nhóm địa danh này, chúng ta cần phải có một số cách thức xử lý khác với nhóm địa danh bản địa. Nhóm địa danh nước ngoài, cụ thể là địa danh tiếng Đức sẽ được trình bày chi tiết hơn trong các chương tiếp theo của đề tài.
19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra cũng trong chương này, chúng tôi trình bày ngắn gọn về vị trí của địa danh nước ngoài trong hệ thống thuật ngữ khoa học quốc tế (thuật ngữ khoa học tiếng nước ngoài). Có thể nói rằng, địa danh nước ngoài không phải là “thuật ngữ khoa học chính thống” và chúng tôi xếp nhóm từ ngữ này vào nhóm “từ, ngữ nước ngoài đặc biệt”. Cũng chính vì thế mà đối với nhóm từ ngữ này phải có những phương thức “du nhập” thật hợp lý vào tiếng Việt, bởi vì chúng khác với hệ thống thuật ngữ khoa học thực thụ. Tuy vậy, chúng ta cũng thấy là địa danh nước ngoài thường đi kèm với danh pháp.
Trong một số tiểu nhóm địa danh nước ngoài nhất định như địa danh về các đơn vị hành chính, các công trình xây dựng, kiến trúc thì ranh giới phân biệt giữa địa danh nước ngoài và thuật ngữ khoa học quốc tế rất mờ nhạt, có chỗ ta thấy hiện tượng trùng khít giữa địa danh và thuật ngữ nước ngoài. Đối với tiểu nhóm địa danh này thì cách xử lý sẽ giống như khi xử lý thuật ngữ khoa học quốc tế. Cũng trong chương 1, chúng tôi đã đề cập đến một số yêu cầu khi nhập nội tên địa lí nước ngoài vào tiếng Việt, như tính chính xác, tính hệ thống và tính đơn giản, dễ dùng. Ngoài ra, chúng tôi còn lưu ý đến việc hạn chế ngoại lệ trong quá trình nhập nội địa danh nước ngoài do tính phức tạp của nó.
Có quá nhiều ngoại lệ trong thể hiện địa danh nước ngoài tạo “cơ hội” cho những lối mòn trong xử lý địa danh nước ngoài nói riêng và tên riêng nước ngoài nói chung tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH TIẾNG ĐỨC 2. Đặc điểm của hệ thống địa danh tiếng Đức Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu nhóm địa danh bản địa, tức là nhóm địa danh chỉ những vùng miền, những khu vực,. nằm trên lãnh thổ nước Đức, do người Đức đặt tên.
Đặc điểm cấu tạo Xét về mặt cấu trúc, địa danh tiếng Đức được phân chia thành hai nhóm cơ bản: - Địa danh được tạo thành từ một từ (Einwortnamen) - Địa danh được tạo thành từ một cụm từ (Mehrwortnamen) 2. Địa danh được tạo thành từ một từ Nhiều nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và địa danh học Đức như A. Berger cho thấy: địa danh được tạo thành từ một từ chiếm số lượng rất lớn trong lớp từ địa danh tiếng Đức. Trong nhóm này, người ta lại phân biệt giữa nhóm địa danh được hình thành từ một từ đơn (Simplicia) và nhóm địa danh được hình thành bằng phương thức phái sinh (Ableitungen) và phương thức ghép từ (Namenkomposita).
Địa danh được hình thành bằng phương thức ghép từ Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và địa danh học Đức như A. Berger, địa danh tiếng Đức chính thống bao gồm một từ gốc (Grundwort) và phía trước thường có một thành tố có chức năng xác định rõ nghĩa hơn cho từ gốc, thành tố này chúng tôi tạm gọi là từ định danh 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ví dụ trong địa danh Burgwald thì Burg là từ định danh, Wald là từ gốc. Từ gốc thường là danh từ và từ định danh có thể là danh từ, tính từ hoặc động từ.
Như vậy, ta có mô hình tạo địa danh tiếng Đức như sau: - Danh từ + danh từ: Bienen + Wald > Bienenwald - Động từ + danh từ: bücken + Berge > Bückeberge - Tính từ + danh từ: schwarz + Wald > Schwarzwald + Từ gốc trong địa danh tiếng Đức Các nét nghĩa của từ gốc trong nguyên văn tiếng Đức (Grundwort) đã nói rõ chức năng của bộ phận này trong lớp tên địa lí tiếng Đức “Từ gốc nêu rõ lý do đặt tên2 cho một địa điểm hoặc một khu dân cư nào đó, ví dụ từ gốc cho biết là ở đó có các tòa nhà (lúc đó từ gốc là –hausen), hay có nhà thờ (lúc đó từ gốc là –kirchen v. Từ gốc cũng có thể chỉ ra những nét đặc biệt về địa hình khu vực (ví dụ ở đó có núi/-berg, có rừng/-wald) [38]. Những từ gốc này còn được các nhà ngôn ngữ học, địa danh học gọi là vĩ tố (Endung), bởi vì những từ gốc luôn đứng sau trong các địa danh tiếng Đức, có nghĩa là khái niệm này đã xóa nhòa ranh giới với khái niệm hậu tố (Suffix) trong địa danh. Nói như thế để chúng ta thấy tính phức tạp khi đề cập đến đặc điểm cấu tạo của địa danh tiếng Đức, bởi vì những từ gốc có thể đứng độc lập và có thể chúng đóng vai trò làm từ định danh.
Dưới đây là bảng tổng hợp từ gốc đặc trưng và thông dụng trong hệ thống địa danh tiếng Đức (Dựa theo số liệu của Dieter Berger (1999) trong cuốn Duden. Geographische Namen in Deutschland. Herkunft und Bedeutung der Namen von Ländern, Bergen und Gewässern, 2. 2 Từ Grund trong tiếng Đức có nghĩa là „lý do“.
22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Từ gốc đặc trưng trong hệ thống địa danh tiếng Đức ST Từ gốc Ý nghĩa Ví dụ T 1. -ach có nguồn nước, có suối Eisenach 2. -bach có nguồn nước, có suối Amorbach 3. -bek, -beck có nguồn nước, có suối (theo Eggebek, thổ ngữ vùng bắc Gladbeck Đức/Niederdeutsch) 4.
-berg, -burg khu vực có núi, có thành Heidelberg, Alpenburg 5. -born, brun(n) khu vực có nguồn nước Herborn 6. -dorf, -drup, - khu vực làng mạc, khu dân cư Düsseldorf, dorp, -trop, -trup Nortrup 8. -furt3, -fort, -ford khu vực có cầu, phà qua sông Erfurt 10.
-heim, -hem, -em khu dân cư Badenheim 11. -holz, -holt khu vực có rừng Bochholt 12. -hausen, -husen khu vực dân cư Babenhausen 13. -leben, -leve4 khu vực là tài sản thừa kế Ebeleben 3 Flußdurchquerung 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
-kirchen, -kerken khu vực có nhà thờ Bergkirchen 15. -rode, -rade, - khu vực có rừng Bayreuth reuth Walsrode 16. -stadt, -stet nơi chốn, khu vực Neustadt 17. -werder, -werda cồn cát Lemwerder Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, những từ gốc trong các địa danh thường bị mờ nghĩa, ví dụ như từ gốc là –heim chuyển thành –em, –en, –um, có nghĩa là lúc này, các từ gốc đã trở thành hậu tố (Suffixe).
Chúng tôi đã thống kê tỉ lệ của những nhóm từ gốc trong 1000 đơn vị địa danh tiếng Đức (xem phụ lục 1) và kết quả thu được như sau: Bảng 2.2: Tỉ lệ những nhóm từ gốc thông dụng trong địa danh tiếng Đức STT Từ gốc Tỉ lệ 1. -dorf, -drup, -dorp, -trop, -trup 5,2% 3. -heim, -hem, -em 5,1% 4. -stadt, -stedt, -städt, -stet 3,2% 6.
-beke, -beck 0,8% 4 Hinterlassenschaft 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. -brück, -brügg, -bruck 0,8% 9. -rode, -rade, -reuth 0,6% 13. -eck, -egg, -ecke 0,2% 17.
-furt, -fort, -ford 0,2% Nhận xét: Như đã trình bày ở trên, số lượng nhóm từ gốc trong địa danh tiếng Đức tương đối lớn. Do có quá nhiều nhóm từ có thể đóng vai trò là từ gốc trong hệ thống địa danh tiếng Đức cho nên tỉ lệ của mỗi nhóm từ tương đối khiêm tốn. Số liệu thống kê cho thấy, nhóm từ gốc trong địa danh tiếng Đức thông dụng nhất là nhóm từ chỉ những nét đặc biệt của môi trường tự nhiên tại khu vực địa hình: Nhóm từ gốc là -berg, -burg (núi, thành) chiếm 8,4%, tiếp theo là nhóm từ gốc -dorf, -drup, -dorp, -trop, -trup (làng mạc) chiếm tỉ lệ là 5,2%. Nhóm từ gốc là -heim, -hem, -em (nhà, làng) chiếm một vị trí khiêm tốn hơn (5,1%), -bach (suối) với tỉ lệ 4,7% và -stadt, -stedt với tỉ lệ 3,2%.
25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn những nhóm từ gốc thông dụng khác chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp theo thống kê, ví dụ hai nhóm từ gốc -eck, -egg và -furt, -fort, -ford chỉ tham gia với tỉ lệ là 0,2% và nhóm từ gốc -leben, -leve là 0,3%. + Từ định danh trong địa danh tiếng Đức Từ định danh trong địa danh tiếng Đức cho ta thấy mối quan hệ cụ thể hơn, rõ ràng hơn với địa danh được nêu lên ở từ gốc, cho thấy những đặc điểm, tính chất cụ thể của địa danh. Như ở Việt Nam, nhân danh thường gồm hai phần: Họ cha hoặc họ cha + họ mẹ và sau đó là tên (tên đệm và tên gọi). Về nguyên tắc, cha mẹ đặt tên con cái thế nào cũng được.
Để thể hiện ước vọng của mình đối với con, có bậc cha mẹ đặt tên con là Hiếu, là Thuận, là Kiên, là Cường (nay mai những đứa con đó có hiếu, thuận hay không là chuyện hoàn toàn khác). Có người coi con cái là vật báu của gia đình, họ mạc thì đặt tên con là Gia Bảo, Bảo Khánh v. Có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Một tên địa lý tiếng Đức gồm hai phần chính: từ gốc (coi như họ trong nhân danh5) và từ định danh (coi như tên gọi trong nhân danh). Điểm khác ở đây là người Đức thường dựa vào đặc điểm cụ thể của vùng đất đó, của khu vực địa hình đó như đặc điểm về địa chất, về môi trường tự nhiên, về dân cư để đặt tên địa lý.
Xin xem bảng thống kê sau (dựa theo số liệu trên trang web: http://de.org/wiki/Ortsname) để thấy rõ hơn về ý nghĩa các nhóm từ định danh trong địa danh tiếng Đức.