Chương 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE UNG DỤNG CNTT TRONG HE THONG KBNN 1.1 CNTT và vai trò của CNTT 1.1 Khái niệm và các yễu tô cấu thành CNTT 1.1 Khái niệm CNTT và các khai niệm liên quan “ CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại dé sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (IP)”. “Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số” “ Virut máy tính là chương trình máy tính có khả năng lây lan, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đối, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị sd.2 Các yếu tô cầu thành CNTT - Phan cứng: “ Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh, cụm linh kiện, linh kiện, bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện” - _ “Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đôi thông tin SỐ. - Phan mềm: “ Phần mềm là chương trình máy tính được mô ta bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ dé điều khiến thiết bị số thực hiện chức năng nhất định. Có thé chia thành phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng.” + Phần mềm hệ thống: Là những phần mềm điều khiến thiết bị số, liên kết chúng thành một hệ thống tạo thành môi trường hoạt động cho các phần mềm ứng dụng.
Đó là các Hệ điều hành, các phần mềm quản lý và điều khiển thiết bị (Driver). + Phần mềm ứng dung: Là những phần mềm được tao ra nhăm giải quyết những bài toán, những yêu cầu, đòi hỏi của con người và hoạt động trong tất cả các lĩnh vực. - “Cơ sở hạ tầng thông tin: Là hệ thong trang thiét bi phuc vu cho viéc san xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đôi thông tin số, bao gồm mạng viên thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu”. Hạ tầng viễn thông là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc truyền nhận và trao đôi thông tin sô giữa những nơi có nhu câu liên kêt từ xa.
Với bất cứ cá nhân, đơn vị, tổ chức hay một quốc gia nào muốn đưa ứng dụng CNTT vào phục vụ mục đích của mình, đều phải tính toán đến các yếu tô cơ bản trên, đặc biệt luôn phải chú ý tới mối quan hệ giữa chúng. Với những bài toán đòi hỏi tốc độ xử lý thông tin nhanh chóng, lượng thông tin cần xử lý lớn và phức tạp cần phải sử dụng những phần mềm lớn và do đó cũng phải cần một khoản đầu tư lớn cho mua sắm trang thiết bị hiện đại, đủ tạo môi trường cho các phần mềm hoạt động hiệu quả, bên cạnh đó cũng cần phải có chi phí lớn cho việc thuê bao đường truyền thông. Ngược lại với những bài toán đơn giản thì chỉ cần những phần mềm nhỏ và các thiết bị bình thường.Bên cạnh mối quan hệ giữa các yếu 16 trên, chúng ta cần phải chú ý đến những mối quan hệ trong lòng mỗi yếu tố đó, vì trên thực tế chúng ta không chỉ sử dụng một phần mềm ứng dụng nào đó, trên một môi trường hay hệ thống thiết bị nhất định, mà thường dùng nhiều ứng dụng chạy trên cùng một hệ thống và trong cùng một hệ thống cũng sử dụng nhiều loại thiết bị khác nhau. Như vậy chúng ta cần tính toán đến các yêu cầu đảm bảo độ tương thích từ đó việc ứng dụng mới có hiệu quả cao.
Trên thực tế, không ít những ca nhân, đơn vị hay tô chức do không chú ý đến những múi liên hệ này nên đã phải trả giá cho việc dau tư lãng phí, không hiệu quả, mặc du họ đã tính toán đến yếu tô nhân lực.3 Các điều kiện để ứng dụng CNTT. Quá trình ứng dụng CNTT có hiệu quả hay không, tốc độ phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào rât nhiêu điêu kiện, một sô điêu kiện cơ bản sau: Thứ nhất, Các quan điểm, chủ trương chính sách về phát triển ứng dụng CNTT của Đảng va Nhà nước: Đối với nước ta, trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh về ứng dụng CNTT, mặc dù một số dự án, chương trình hiệu quả chưa cao nhưng xét về tổng thể, nước ta vẫn được thế giới đánh giá là nước có tốc độ phát triển ứng dụng CNTT cao. Có được kết quả đó, trước hết phải nói đến sự quan tâm và coi trọng việc phát triển ứng dụng CNTT của Đảng và Nhà nước ta. “ Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương vận dụng công nghệ - thông tin trong một số lĩnh vực.
Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã được nhắn mạnh và cụ thể hóa trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính Phủ. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “ Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học,.” Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (khóa VII) ngày 30/07/1994 xác định: “ Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII nhắn mạnh: “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra su chuyén biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế. Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin kinh tế”.
Dé thé chế hóa về mặt Nhà nước, Chính Phủ đã ban hành Nghị quyết SỐ 49/CP ngày 04 tháng 08 năm 1993 về “ Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90”. 10 Trong phát triển ứng dụng CNTT nhà nước đã chú trọng đến lĩnh vực phát triên công nghiệp phân mêm. “ Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 05 tháng 06 năm 2000 của Chính Phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 đã và đang tạo ra môi trường thuận lợi cho các tô chức, cá nhân trong và ngoài nước dau tư, kinh doanh, sản xuât và cung ứng dịch vụ phân mêm. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về “ day mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, là một trong những văn bản có tầm chiến lược, định hướng mở rộng cảnh cửa cho nước ta phát triển ngành công nghệ cao và rất phù hợp với xu thế phát triển của thé giới, chỉ thị nêu rõ: “ Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sông kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại.
Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phan giải phóng sức mạnh vật chat, trí tuệ và tinh thần của toan dân tộc, thúc đây công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu dé thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Chi thị 58-CT/TW là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị Quyết số 67/2006/QH11, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước. Sau Luật Công nghệ thông tin Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan nhà nước. Gần đây Chính Phủ đã ban hành thêm Quyết định số: 698/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 về việc: “ Phê duyệt Kế hoạch tong thé phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến 11 năm 2015 và định hướng đến năm 2010” và Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/08/2010, “ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015”.
Tất cả những chủ trương, chính sách trên đều vô cùng quan trọng, song nó cần phải có thêm những yếu tố khác đảm bảo sự thành công cho việc ứng dụng CNTT. Trên thực tế chúng ta đã có những chủ trương, chính sách rất kịp thời và đúng đắn nhưng quá trình triển khai đã có những dự án lớn đi đến thất bại như Đề án 112 về tin học quản lý hành chính nhà nước, một trong những nguyên nhân có thê nhận diện khá rõ ràng là: “ chưa quan tâm xây dựng một nên hành chính được vận hành theo một “công nghệ hành chính” tiên tiến. Trên nền “ công nghệ” đấy mới áp dụng giải pháp tin học. Hay nói một cách khác, tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước chỉ phát huy được trên nền “ Công nghệ hành chính” tiên tiến.
Vì vậy muốn thành công trong ứng dụng CNTT, cần phải đi liền với nó là sự thay đối, cải cách các quy trình thủ tục theo hướng tiên tiễn, hiện đại. Thứ hai, Các yếu tố nguồn lực tài chính: Mặc dù chúng ta đã có nhận thức đúng đắn, quan điểm đúng đắn về phát triển ứng dụng CNTT, nhưng nếu chúng ta không có được nguồn tài chính thì các chính sách, chiến lược sẽ chỉ nằm trên giấy. Dé phát triển ứng dụng CNTT, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng dan trong van đề chỉ tiêu, vì đây là lĩnh vực phải chi phí khá cao cho các sản phâm mang đặc tính chứa đựng hàm lượng chất xám cao, hao mòn vô hình lớn, chúng ta phải san sàng đầu tư những khoản kinh phí lớn nhưng bên cạnh đó phải tính toán kỹ lưỡng, tránh lãng phí, không hiệu quả. Khi xây dựng các định mức chi cho con người, luôn phải chú ý tới yếu tô lao động trí tuệ cao.
phải coi đầu tư cho ứng dụng CNTT là đầu tư cho phát triển. Thứ ba, về nhân lực: Đây cũng là điều kiện hết sức quan trọng, nhiều chương trình, dự án chưa quan tâm nhiều đến điều kiện này mà dẫn đến đô vỡ, lãng phí hoặc hiệu quả khai 12 thác rất thấp.