Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006 ghi nhận sự mở cửa mạnh mẽ của nền kinh tế, đi kèm với đó là áp lực gia tăng đối với cán cân thanh toán quốc tế. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu liên tục mở rộng với nhiều mặt hàng chủ lực như dệt may đạt hơn 9.060 triệu USD và thủy sản đạt 4.251 triệu USD trong năm 2009, nền kinh tế vẫn phải đối mặt thường trực với tình trạng nhập siêu kéo dài hàng tỷ USD mỗi năm. Vấn đề đặt ra là liệu công cụ điều hành tỷ giá hối đoái có thực sự mang lại hiệu quả cải thiện cán cân thương mại hay việc điều chỉnh giảm giá đồng nội tệ lại làm trầm trọng thêm mức độ thâm hụt mậu dịch.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái tại Việt Nam, xây dựng chỉ số tỷ giá thực đa phương (REER) dựa trên rổ 9 đồng tiền của các đối tác thương mại trọng yếu, từ đó kiểm định định lượng tác động của tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực đến xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát chuỗi dữ liệu theo quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2009 với 40 quan sát liên tục, phản ánh trọn vẹn chu kỳ kinh tế trước và sau khi gia nhập WTO.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa chính xác độ co giãn thương mại, chỉ ra rằng mức độ giải thích của biến số tỷ giá đối với sự biến thiên xuất khẩu đạt 70,45% và nhập khẩu đạt 65,66%. Đồng thời, nghiên cứu đặt mối quan hệ tỷ giá trong mối tương quan với các chỉ tiêu an toàn vĩ mô như quy mô nợ nước ngoài quốc gia đạt 27,929 tỷ USD và dư nợ chính phủ chiếm 41,9% GDP năm 2009. Đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý thiết lập chính sách tiền tệ thận trọng, tránh lạm dụng phá giá danh nghĩa để tìm kiếm lợi thế thương mại ngắn hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học quốc tế kinh điển về tỷ giá và cán cân thanh toán. Trọng tâm là điều kiện Marshall-Lerner do Alfred Marshall và Abba Lerner phát triển, được Joan Robinson và Fritz Machlup mở rộng. Điều kiện này phát biểu rằng việc phá giá đồng nội tệ chỉ cải thiện được cán cân thương mại khi tổng giá trị tuyệt đối của độ co giãn xuất khẩu và độ co giãn nhập khẩu theo tỷ giá lớn hơn 1.

Song song đó, lý thuyết về hiệu ứng đường cong J của tác giả Paul Krugman (1991) chỉ ra rằng sau khi phá giá, cán cân thương mại thường xấu đi trong ngắn hạn do hiệu ứng giá cả áp đảo, trước khi cải thiện trong dài hạn khi hiệu ứng khối lượng phát huy tác dụng. Ngược lại, lý thuyết đường cong M của Deepak Garg và Sandeep Ramesh (2005) mô tả một chu kỳ biến động phức tạp hơn qua bốn giai đoạn điều chỉnh của thị trường.

Các khái niệm chính được vận dụng bao gồm: Tỷ giá danh nghĩa song phương USD/VND; Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER); Tỷ giá thực song phương (RER) phản ánh sức mua tương đối sau khi loại trừ chênh lệch lạm phát; và Tỷ giá thực hiệu lực (REER) đại diện cho năng lực cạnh tranh tổng thể của quốc gia so với rổ tiền tệ của các đối tác thương mại quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp phân tích định tính và mô hình hóa định lượng kinh tế lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 40 quan sát theo chuỗi thời gian quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2009. Mốc thời gian năm 2000 được chọn làm năm gốc (CPI = 100) nhờ đặc trưng kinh tế vĩ mô ổn định và mức độ thâm hụt thương mại tương đối thấp.

Rổ tiền tệ tính REER được xác định bao gồm 9 đồng tiền chủ chốt đại diện cho các đối tác thương mại lớn nhất và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam: Đô la Mỹ (USD), Đồng Euro (EUR, đại diện qua Đức và Pháp), Yên Nhật (JPY), Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY), Baht Thái Lan (THB), Đô la Singapore (SGD), Tân Đài tệ (TWD), Won Hàn Quốc (KRW) và Đô la Úc (AUD). Tỷ trọng thương mại được chuẩn hóa theo tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu của từng đối tác.

Phương pháp phân tích định lượng sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS) trên phần mềm EViews 5.1 để ước lượng các phương trình hồi quy tuyến tính đơn biến giữa tỷ giá với xuất khẩu, nhập khẩu và thâm hụt thương mại. Đồng thời, mô hình đa biến dạng Logarit theo cấu trúc của Mohsen Bahmani-Oskooee và Tatchawan Kantipong được áp dụng để đánh giá tác động đồng thời của GDP đối tác và chỉ số REER đến tỷ số xuất nhập khẩu, kết hợp kiểm định Wald để xác nhận độ tin cậy của mô hình. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính quy từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán chỉ số REER giai đoạn 2000-2009 cho thấy đồng Việt Nam được định giá thấp trong hầu hết giai đoạn từ 2001 đến 2007 với chỉ số luôn duy trì trên 100 điểm, đạt đỉnh vào năm 2003. Tuy nhiên, đến năm 2008, chỉ số REER rơi xuống dưới mức 100 điểm, đồng nghĩa với việc đồng nội tệ bị định giá cao do áp lực lạm phát nội địa bùng nổ lên đến 22,97%, cao gấp hơn 3 lần so với các quốc gia trong khu vực như Singapore. Sang năm 2009, REER mới dần phục hồi về trên mức 100 điểm.

Thứ hai, kết quả hồi quy OLS giữa tỷ giá danh nghĩa USD/VND và kim ngạch thương mại phản ánh mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê cao ở mức xác suất tiệm cận 0,0000. Cụ thể:

  • Khi tỷ giá tăng 1 VND/USD (đồng nội tệ mất giá), kim ngạch xuất khẩu tăng 4,693392 triệu USD với hệ số xác định R2 đạt 70,45%.
  • Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu lại tăng mạnh hơn, đạt mức 6,241195 triệu USD cho mỗi 1 VND tỷ giá tăng với R2 đạt 65,66%.
  • Do tốc độ tăng nhập khẩu vượt trội hơn xuất khẩu đến 32,98%, mô hình hồi quy thâm hụt mậu dịch chứng minh tỷ giá tăng 1 VND/USD khiến mức thâm hụt thương mại mở rộng thêm 1,547803 triệu USD (R2 = 32,81%).

Thứ ba, phương trình hồi quy đa biến giới hạn xác nhận tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu có mối quan hệ nghịch biến với GDP bình quân của các đối tác và đồng biến với REER: Ln(EXM) = 16,324161 - 4,194487 Ln(GDPw) + 1,380992 Ln(REER) Hệ số F đạt 8,845068 chứng minh mô hình có ý nghĩa thống kê. Khi chỉ số REER tăng 1% (nội tệ giảm giá thực tế), tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu tăng 1,380992%. Ngược lại, khi GDP bình quân của các đối tác thương mại tăng 1%, tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu lại sụt giảm 4,194487%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh chân thực nghịch lý thương mại của Việt Nam: việc phá giá đồng nội tệ thúc đẩy cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu, nhưng nhập khẩu luôn phản ứng mạnh hơn khiến cán cân thương mại xấu đi thay vì được cải thiện như kỳ vọng lý thuyết. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ cơ cấu sản xuất phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu, máy móc và năng lượng nhập khẩu.

Báo cáo thống kê cơ cấu hàng hóa năm 2009 cho thấy nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm tới 12.670 triệu USD và nguyên liệu dệt may da giày chiếm 7.360 triệu USD. Các doanh nghiệp trong nước chưa phát triển được chuỗi công nghiệp phụ trợ, buộc phải nhập khẩu đầu vào với chi phí quy đổi VND tăng vọt mỗi khi tỷ giá biến động. Khi giá vốn đầu vào tăng, lợi thế cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu lập tức bị triệt tiêu, khiến hiệu ứng giá cả lấn át hoàn toàn hiệu ứng số lượng.

Hiện tượng GDP đối tác tăng làm giảm tỷ số xuất nhập khẩu được giải thích là do các đối tác lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc tăng cường dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào Việt Nam, kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc trang thiết bị phục vụ xây dựng nhà xưởng tăng đột biến. Kết quả này được trình bày trực quan qua các đồ thị phân tán hồi quy tuyến tính và biểu đồ đường biến thiên REER, hoàn toàn phù hợp với các cảnh báo thực nghiệm của Goldstein và Kahn (1985) về tính kém co giãn của cầu nhập khẩu tại các quốc gia đang phát triển.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng định lượng, nghiên cứu đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chính sách mang tính hành động cao nhằm cải thiện bền vững cán cân thương mại:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tỷ giá dựa trên rổ tiền tệ và chỉ số REER thay vì neo cố định đơn thuần vào USD. Cần duy trì biên độ dao động linh hoạt quanh dải băng tỷ giá mục tiêu, sử dụng REER như thước đo cảnh báo sớm nhằm giữ giá trị đồng nội tệ tiệm cận mức cân bằng 100 điểm, tuyệt đối không phá giá cơ học để kích thích xuất khẩu.

Thứ hai, triển khai quyết liệt lộ trình chống đô la hóa nền kinh tế và thu hẹp thị trường ngoại hối phi chính thức. Cần xóa bỏ triệt để tình trạng niêm yết hàng hóa bằng USD trong nội địa, kiểm soát chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và hệ thống ngân hàng thương mại xuống dưới mức 1% đến 2% nhằm triệt tiêu tâm lý găm giữ ngoại tệ.

Thứ three, Bộ Công Thương và các hiệp hội ngành hàng cần thực thi chiến lược tái cơ cấu chuỗi cung ứng, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng nội địa. Mục tiêu đặt ra là hạ tỷ trọng nguyên phụ liệu dệt may, da giày nhập khẩu từ mức trên 70% xuống dưới 50% trong vòng 3 đến 5 năm tới thông qua việc phát triển mạnh mẽ mạng lưới công nghiệp phụ trợ.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng cần đẩy mạnh cung cấp và hướng dẫn doanh nghiệp xuất nhập khẩu ứng dụng công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cần nâng tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng các hợp đồng kỳ hạn (forward), hợp đồng hoán đổi (swap) và quyền chọn (options) từ mức khiêm tốn hiện tại lên ít nhất 30% đến 40% quy mô giao dịch.

Thứ năm, Chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ an toàn nợ công và cơ cấu ngoại tệ vay. Khi dư nợ chính phủ tiệm cận mức 41,9% GDP và tiến sát trần an toàn 50% GDP, trong đó các khoản vay bằng đồng Yên Nhật (JPY) chiếm 41,96% và quyền rút vốn đặc biệt (SDR) chiếm 27,39%, việc giảm giá VND sẽ làm tăng mạnh nghĩa vụ trả nợ tính bằng nội tệ, đe dọa trực tiếp an ninh tài chính quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên gia tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng mô hình tính toán REER và ước lượng độ co giãn để thiết kế khung điều hành tỷ giá trung hạn, kiểm soát nhập siêu và giám sát rủi ro nợ công.
  2. Ban lãnh đạo và Giám đốc tài chính (CFO) tại doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến chi phí nguyên liệu và giá bán, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược định giá, chọn đồng tiền thanh toán và chủ động lập kế hoạch phòng vệ rủi ro hối đoái.
  3. Chuyên viên phân tích kinh tế vĩ mô tại ngân hàng và quỹ đầu tư: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về hồi quy chuỗi thời gian kinh tế lượng, giúp xây dựng các báo cáo dự báo tỷ giá, cán cân thanh toán và dòng vốn ngoại hối định kỳ.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình xây dựng luận văn thạc sĩ kinh tế tài chính, từ việc lập rổ tiền tệ tính REER đến các kỹ thuật xử lý dữ liệu và kiểm định mô hình trên phần mềm EViews.

Câu hỏi thường gặp

Phá giá đồng Việt Nam có thực sự giúp thu hẹp thâm hụt thương mại hay không? Không. Kết quả định lượng chỉ ra rằng khi tỷ giá USD/VND tăng 1 đồng, xuất khẩu tăng 4,69 triệu USD nhưng nhập khẩu tăng tới 6,24 triệu USD. Do nhập khẩu nguyên liệu và máy móc không co giãn nhiều theo giá, phá giá sẽ làm mức thâm hụt mậu dịch mở rộng thêm 1,55 triệu USD.

Chỉ số REER mang lại lợi ích gì so với tỷ giá danh nghĩa USD/VND? Chỉ số REER đo lường sức mua thực tế của đồng Việt Nam so với rổ 9 ngoại tệ chủ chốt sau khi đã điều chỉnh lạm phát. Khi REER lớn hơn 100 điểm, nội tệ bị định giá thấp; khi nhỏ hơn 100 điểm, nội tệ bị định giá cao, giúp phản ánh chính xác năng lực cạnh tranh quốc gia.

Vì sao hiệu ứng đường cong J không phát huy tác dụng rõ rệt tại Việt Nam? Hiệu ứng đường cong J đòi hỏi hàng hóa nội địa phải nhanh chóng thay thế được hàng nhập khẩu khi giá hàng nhập đắt đỏ lên. Tuy nhiên, Việt Nam phụ thuộc tới 12,67 tỷ USD máy móc và 7,36 tỷ USD nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu trong năm 2009 mà trong nước chưa tự sản xuất được, làm kéo dài thời gian thâm hụt.

Quy mô và cơ cấu nợ nước ngoài ảnh hưởng như thế nào đến quyết định điều chỉnh tỷ giá? Tính đến cuối năm 2009, nợ nước ngoài của Việt Nam đạt 27,929 tỷ USD và dư nợ chính phủ đạt 41,9% GDP. Trong đó nợ bằng đồng JPY chiếm tới 41,96% và SDR chiếm 27,39%. Việc phá giá VND sẽ làm tăng vọt giá trị nghĩa vụ trả nợ bằng đồng nội tệ, gây rủi ro lớn cho ngân sách.

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần làm gì để hạn chế rủi ro biến động tỷ giá? Doanh nghiệp cần chủ động sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường đối tác và từng bước nâng cao tỷ lệ nguyên vật liệu thu mua nội địa nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ nhập khẩu.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa thành công tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2009 thông qua hệ thống mô hình hồi quy kinh tế lượng và chỉ số tỷ giá thực đa phương REER.
  • Bằng chứng thực nghiệm khẳng định phá giá danh nghĩa không thể giải quyết triệt để căn bệnh nhập siêu do tốc độ tăng của nhập khẩu (6,24 triệu USD/VND) luôn áp đảo xuất khẩu (4,69 triệu USD/VND).
  • Tính toán REER phản ánh chính xác tác động tiêu cực của lạm phát đỉnh điểm 22,97% năm 2008 khiến đồng nội tệ bị định giá cao và làm suy giảm sức cạnh tranh thương mại.
  • Hệ thống khuyến nghị cung cấp lộ trình điều hành tỷ giá linh hoạt theo rổ tiền tệ, chống đô la hóa, tăng tỷ lệ nội địa hóa và kiểm soát ngưỡng an toàn dư nợ chính phủ dưới trần 50% GDP.
  • Đây là công trình tham khảo giá trị cao dành cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ, nhà quản trị doanh nghiệp và giới nghiên cứu học thuật trong việc kết nối lý thuyết kinh tế quốc tế với thực tiễn điều hành vĩ mô tại Việt Nam.