phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì bố cục bài nghiên cứu này đƣợc chia thành 5 chƣơng. - Chƣơng 1: Giới thiệu về nợ nƣớc ngoài, tăng trƣởng kinh tế và tác động của nợ nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế. - Chƣơng 2: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây bao gồm các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam. - Chƣơng 3: Phƣơng pháp và dữ liệu nghiên cứu.
- Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm. - Chƣơng 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và thảo luận. Những đóng góp của bài nghiên cứu - Luận văn đã cung cấp thêm một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của nợ nƣớc ngoài đối với tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam: phƣơng pháp hồi qui tuyến tính bằng mô hình VECM. - Đƣa ra nhận định về mối quan hệ giữa nợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng nợ đang diễn ra ở các quốc gia trên thế giới đặc biệt ở Châu Âu.
- Cuối cùng, luận văn cũng lƣợng hóa đƣợc mức độ tác động của nợ nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế để đề ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ nƣớc ngoài của Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 TÓM TẮT Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xem xét mối quan hệ cả trong ngắn hạn và dài hạn giữa nợ nƣớc ngoài và các biến vĩ mô đƣợc lựa chọn và tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam trong khoảng thời gian 1986-2012 thông qua việc sử dụng phƣơng pháp đồng liên kết Johansen, mô hình véc tơ điều chỉnh sai số (VECM) và cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM). Trong đó tập trung vào mối quan hệ giữa nợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam. Phƣơng pháp đồng liên kết Johansen khẳng định có tồn tại ít nhất một mối quan hệ đồng liên kết của các biến đƣợc lựa chọn trong mô hình.
Kết quả nghiên cứu của mô hình VECM cho thấy rằng trong dài hạn, nợ nƣớc ngoài tác động tích cực đến tăng trƣởng kinh tế. Khi tỷ lệ nợ nƣớc ngoài trên GDP tăng 1% thì GDP thực bình quân đầu ngƣời tăng 0. Mô hình ECM có hệ số điều chỉnh sai số mang dấu âm cho thấy, khi tăng trƣởng kinh tế vƣợt mức cân bằng dài hạn sẽ có cơ chế điều chỉnh sự mất cân bằng về trạng thái cân bằng trong kỳ kế tiếp. Tuy nhiên, hệ số hồi qui của yếu tố này không có ý nghĩa thống kê.
Điều này dẫn đến sự hoài nghi về độ tin cậy của các biến độc lập kể trên trong việc giải thích sự tự vận động của tăng trƣởng kinh tế trở về vị trí cân bằng dài hạn khi có sự thay đổi của các biến độc lập. Từ khóa: nợ nƣớc ngoài (external debt), economic growth (tăng trƣởng kinh tế), gánh nặng nợ (debt burden), dịch vụ nợ (debt servicing) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ NƢỚC NGOÀI, TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1 Khái niệm về nợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế 1.1 Nợ nƣớc ngoài của quốc gia Nợ nƣớc ngoài là một khái niệm cần làm rõ để quản lý một cách hiệu quả vì với cách hiểu khác nhau sẽ cho số liệu khác nhau dẫn đến đánh giá và giải quyết vấn đề nợ khác nhau. Theo định nghĩa của các tổ chức quốc tế nhƣ Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), tổng vay nợ nƣớc ngoài vào một thời điểm nào đó là nghĩa vụ nợ hiện hành, không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng mà đối tƣợng cƣ trú của một nền kinh tế nợ đối tƣợng không cƣ trú và phải hoàn trả nợ gốc và/ hoặc tiền lãi tại một thời điểm trong tƣơng lai. Theo khái niệm này, nợ nƣớc đƣợc ngoài gắn liền với khái niệm đối tƣợng cƣ trú.
Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công năm 2009, nợ nƣớc ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nƣớc ngoài của Chính phủ, nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác đƣợc vay theo phƣơng thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo khái niệm này, nợ nƣớc ngoài là tất cả các khoản vay mƣợn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nƣớc ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình). Nhƣ vậy ta thấy về bản chất không có sự khác biệt đáng kể trong định nghĩa về nợ nƣớc ngoài của Việt Nam và Quốc tế. Tuy nhiên, định nghĩa về nợ của Quốc tế rõ ràng và rộng hơn khái niệm nợ của Việt Nam.
Vì vậy, số liệu về nợ nƣớc ngoài của Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nam theo thống kê của các tổ chức quốc tế luôn lớn hơn so với số liệu của các tổ chức trong nƣớc.2 Tăng trƣởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng về giá trị trong phạm vi một nền kinh tế. Tăng trƣởng kinh tế đƣợc phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhƣng chỉ tiêu thƣờng đƣợc sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tăng trƣởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lƣợng thị trƣờng.Sự tƣơng tác giữa các bộ phận cấu thành GDP nhƣ tiêu dùng nội địa, đầu tƣ, chi tiêu chính phủ và cán cân thƣơng mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Quá trình tăng trƣởng thể hiện các nguồn lực tăng trƣởng nhƣ tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trƣờng. đƣợc khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất.
Tăng trƣởng kinh tế bao hàm cả tăng trƣởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lƣợng và chất lƣợng, ngắn hạn và dài hạn.Nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nƣớc đã lƣợng hóa tác động của các nguồn lực tăng trƣởng đến chất lƣợng và động thái tăng trƣởng thông qua các mô hình nhƣ mô hình tái sản xuất giản đơn của C. Mác, tái sản xuất mở rộng của V. Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trƣởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow.hoặc hàm sản xuất Cob Douglas. Quá trình tăng trƣởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau nhƣ tăng trƣởng kinh tế hƣớng nội, tăng trƣởng kinh tế hƣớng ngoại hoặc sự kết hợp của cả hai mô hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lƣợc của các quốc gia.
Nhƣ vậy, tăng trƣởng kinh tế là quá trình tích luỹ giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các nguồn lực trong và ngoài nƣớc và nó phải đƣợc thúc đẩy bằng những động lực đủ mạnh của chính sách, lòng tự hào dân tộc hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Tác động của nợ nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế Các lý thuyết kinh tế cho rằng mức vay nợ nƣớc ngoài hợp lý ở các nƣớc đang phát triển sẽ kích thích tăng trƣởng kinh tế. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lƣợng vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tƣ với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các nền kinh tế phát triển. Câu hỏi đặt ra là tại sao mức nợ tích lũy cao quá mức hợp lý lại có thể dẫn tới tăng trƣởng kinh tế thấp hơn.
Sự lý giải tốt nhất có thể xuất phát từ lý thuyết “debt overhang”. Theo Krugman (1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng trong đó số tiền dự kiến chi trả nợ nƣớc ngoài sẽ giảm dần khi dung lƣợng nợ tăng lên. Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu nhƣ nợ trong tƣơng lai vƣợt quá khả năng trả nợ của một nƣớc thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tƣ trong nƣớc và đầu tƣ nƣớc ngoài, từ đó ảnh hƣởng xấu đến tăng trƣởng. Các nhà đầu tƣ tiềm năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia đó sản xuất càng nhiều, họ sẽ bị các nƣớc đánh thuế nặng hơn để chi trả cho các khoản nợ nƣớc ngoài, do đó các nhà đầu tƣ sẽ khó có thể bỏ các chi phí đầu tƣ hiện tại để thu về sản lƣợng cao hơn trong tƣơng lai.
Lý thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ nƣớc ngoài quá cao sẽ làm giảm các ƣu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài khóa do việc củng cố tình hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho nƣớc ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở các nƣớc có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Tình trạng “Debt overhang” cũng đồng thời kìm hãm đầu tƣ và tăng trƣởng do gây ra sự lo ngại về các quyết định của Chính phủ. Khi quy mô nợ công tăng lên, khó có thể chắc chắc rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các khoản nợ phải trả.
Trên thực tế, ngƣời ta cho rằng Chính phủ có thể dùng các công cụ tác động đến đầu tƣ để chi trả cho các khoản nợ (theo Agenor và Montiel 1996). Lập luận này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có thể đƣợc xem xét trong đƣờng cong Laffer về nợ ( Hình 1.1), cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm. Trên phần dốc lên của đƣờng cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên. Trên phần dốc xuống của đƣờng cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm.1: Đƣờng cong Laffer về nợ Nguồn: Catherine Pattillo, Hélène Poirson and Luca Ricci (2002):” External Debt and Growth”, Magazine Finance and Development of the IMF.
Đỉnh đƣờng cong Laffer về nợ là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tƣ, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này có thể liên quan đến điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến tăng trƣởng. Mặc dù lý thuyết “debt overhang” không trực tiếp phân tích ảnh hƣởng của nợ nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế nhƣng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kiềm hãm tăng trƣởng do góp phần làm giảm đầu tƣ. Do vậy, ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tác động tích cực đến tăng trƣởng.