Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm và khung phân tích Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đo lường tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ của nợ công với tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn. Chương 4: thảo luận về kết quả kiểm định và ước lượng của mô hình. Chương 5: đưa ra các kết luận chính của bài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và hạn chế của mô hình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Khung lý thuyết, các mô hình kinh tế về nợ công và tăng trưởng Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là một đề tài thu hút được nhiều tranh luận của các học giả thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, cả tân cổ điển và Keynes.
Tuy nhiên, các nghiên cứu của các học giả này không đưa ra một câu trả lời đồng nhất mà tồn tại 3 luồng quan điểm: - Thứ nhất, quan điểm nợ công có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia với đại diện là Friedman (1988). - Thứ hai, quan điểm nợ công ở mức hợp lý có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế do tác động đến tổng cầu thuộc về các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes. - Thứ ba, quan điểm nợ công có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế thuộc về các nhà kinh tế theo trường phái Ricardo với đại diện tiêu biểu là Barro. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế liên quan tới 3 quan điểm sẽ lần lượt được thảo luận ở phần tiếp theo.1 Khung lý thuyết về nợ công và tăng trưởng kinh tế (i) Quan điểm 1: Nợ công có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế Trường phái kinh tế cổ điển cho rằng khi Chính phủ dùng nợ để trang trải các khoản thâm hụt ngân sách thì sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế do gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai cũng như do việc giảm đầu tư tư nhân từ áp lực tăng lãi suất.
Modigliani (1961) lập luận rằng khi Chính phủ vay tiền thì Chính phủ sẽ phải tăng thuế để bù đắp lại các khoản lãi phải trả cho các khoản vay đó. Việc tăng thuế trong tương lai làm giảm thu nhập của dân chúng nên thực chất tổng nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế không đổi, chỉ chuyển từ “túi người này sang túi người kia”. Thêm nữa, thu nhập kỳ vọng giảm do việc tăng thuế cũng không kích thích đầu tư để tăng trưởng kinh tế. Ông phát biểu rằng “nếu Chính phủ đánh thuế, thì người dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 còn ít tiền trong túi hơn, cho nên mỗi đồng Chính phủ chi tiêu sẽ được cân đối bằng một đồng không được chi ở chỗ khác”.
Friedman (1988) lại cho rằng sự gia tăng của nợ công do thâm hụt ngân sách sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất. Lãi suất tăng đương nhiên sẽ làm giảm đầu tư tư nhân. Nói một cách khác, Friedman (1988) cho rằng tăng nợ công giống như việc “chi tiêu công chèn ép đầu tư tư nhân” (crowd out effect). Một khi đầu tư tư nhân giảm thì tăng trưởng kinh tế cũng giảm.
(ii) Quan điểm 2: Nợ công có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Quan điểm của trường phái Keynes được đưa ra dựa trên hai giả thuyết cơ bản là tổng cung chịu ảnh hưởng của tổng cầu và giả thiết nền kinh tế không ở trong trạng thái toàn dụng. Keynes đề xuất khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng thì Chính phủ có thể đưa ra các gói kích cầu để tác động vào nền kinh tế. Các gói kích cầu này có thể thực hiện bằng cách Chính phủ đi vay để tăng chi tiêu công. Việc tăng tổng cầu sẽ có tác dụng thúc đẩy tổng cung và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Robert Eisner (1984) cho rằng nếu nợ công ở mức hợp lý sẽ có tác động làm gia tăng việc tổng cầu, tăng tỷ suất lợi nhuận đầu tư từ đó thúc đẩy đầu tư cho dù lãi suất có tăng lên. Chính vì thế, ông đã áp dụng lý thuyết này trong các phân tích thực chứng và chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách (hay nợ công) có quan hệ tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của thu nhập. Những phát hiện của Eisner tuy nhiên lại không nhận được nhiều sự đồng tình chẳng hạn, Gramlich (1989) cho rằng việc sử dụng nợ công để tài trợ cho thâm hụt ngân sách không quan trọng trong việc quyết định tính hiệu quả của chính sách tài khóa. Quan điểm của phái Keynes cũng vấp phải sự phản đối của những người theo trường phái kinh tế Ricardo khi họ cho rằng chi tiêu tăng thêm của Chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do Chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại.
Tác động ròng lên tổng cầu sẽ bằng không. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (iii) Quan điểm 3: Nợ công có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế Quan điểm của trường phái Ricardo trong đó Robert Barro (1989) là một đại diện tiêu biểu. Quan điểm này cho rằng, thâm hụt ngân sách (nợ công) có tác động rất nhỏ tới nền kinh tế vì nợ công không có tác động gì đến tổng cầu. Việc gia tăng chi tiêu công ngày hôm nay sẽ làm tăng thuế cả ở hiện tại và tương lai trong khi người tiêu dùng sẽ định hướng hành vi tiêu dùng của họ dựa trên giá trị hiện tại của thu nhập của họ trong tương lai.
Dù cho việc gia tăng thuế diễn ra ở hiện tại hay tương lai thì việc tiêu dùng cũng sẽ giảm tương ứng với việc chi tiêu của Chính phủ. Vậy thì nhóm người già phản ứng như thế nào? Đơn giản là họ gia tăng thu nhập dưới dạng di sản để lại cho con cháu với mức bằng khoản tiền đủ để trả phần thuế tăng thêm mà thế hệ tương lai phải chịu. Bằng cách làm này, kết quả không có gì thay đổi thực sự. Các thế hệ sẽ có cùng mức tiêu dùng chính xác một số tiền giống nhau như trước khi Chính phủ vay nợ.
Mỗi thế hệ tiêu dùng chính xác một số tiền giống nhau như trước khi Chính phủ vay nợ. Quan điểm của trường phái Ricardo đã bị phê phán cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bernheim (1989) cho rằng quan điểm của trường phái này dựa quá nhiều vào các giả thuyết, trong đó có giả thiết rằng các hộ gia đình là các thực thể độc lập và không có mối liên hệ với nhau. Giả thiết này chỉ có ở các thị trường hoàn hảo trong đó người tiêu dùng có các quyết định của mình chỉ dựa vào lý trí (duy lý) mà thôi.
Giả thuyết kỳ vọng duy lý được dựa trên ý tưởng cho rằng mọi người - người tiêu dùng, doanh nghiệp, chủ lao động và người lao động - sử dụng hiệu quả thông tin mà họ có được về quá khứ, hiện tại và tương lai. Họ nhìn vào những sự kiện trong quá khứ để tiên đoán điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng không có nghĩa là ai cũng đoán đúng về tương lai, mà thật ra những sai lầm của chúng ta không tương quan với nhau. Chúng ta điều chỉnh những kỳ vọng về tương lai một cách liên tục và theo sát những thay đổi trong điều kiện kinh tế. Hàm ý chính sách quan trọng của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lý thuyết kỳ vọng duy lý là sự can thiệp của Chính phủ sẽ lợi bất cập hại.
Giả sử Chính phủ tăng chi tiêu trong giai đoạn thất nghiệp cao. Theo Keynes thì điều này sẽ làm tăng cầu hiệu dụng và thuyết phục được doanh nghiệp và hộ gia đình rằng điều kiện là an toàn cho đầu tư và tiêu dùng. Ngược lại, phe kỳ vọng duy lý cho rằng chi tiêu tăng thêm của Chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do Chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại. Tác động ròng lên tổng cầu sẽ bằng không.
Barro cũng thừa nhận rằng các giả thiết này là quá mạnh tuy nhiên cũng cho rằng dù cho lý thuyết của trường phái Ricardo không hoàn hảo thì vẫn có thể sử dụng được như là một tiêu chuẩn để đo lường tính hiệu quả của chính sách tài khóa của một quốc gia. Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm của quốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng đó là hành vi của người tiêu dùng cũng như tính hiệu quả trong việc chi tiêu ngân sách Nhà nước. Các lý thuyết trên đây cho thấy nợ công có thể có tác động tích cực và tiêu cực và cho rằng nợ công ở mức hợp lý có thể kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy mức nợ công hợp lý là bao nhiêu hay và tại sao vượt qua mức đó thì nợ công sẽ có tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế? Câu trả lời nằm trong lý thuyết về ngưỡng nợ của Krugman (1988).
Krugman (1988) trình bày một tình trạng vượt ngưỡng nợ là tình trạng trong đó số tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết này cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tư trong nước từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Lập luận của lý thuyết “ngưỡng nợ” có thể được xem xét qua đường cong Laffer. Ðường cong Laffer cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm.
Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên. Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ðỉnh đường cong Laffer đã gợi ý điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác. Ðây là điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng.