mở đầu cho làn sóng mô hình tăng trưởng nội sinh, mô hình này cho rằng FDI tạo nên hoạt động thương mại, công nghiệp, làm phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Thứ ba là mô hình phân hóa sản phẩm của Romer ( 1990) tranh luận rằng tăng trưởng kinh tế và năng suất xuất phát từ mở rộng và chuyên biệt hóa các sản phẩm trung gian ( theo Aghion và Howitt 2009). Một số lại cho rằng chính tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng sự đầu tư mở rộng các sản phẩm trung gian được chuyên biệt hóa. Hơn nữa các nhà nghiên cứu của nước chủ nhà thích việc đầu tư vào các sản phẩm trung gian này vì nó làm lan tỏa và nhân rộng FDI.
Cuối cùng, theo mô hình Schupeterian của Aghion và Howitt ( 1992) tăng trưởng đến từ việc cải thiện chất lượng hàng hóa vốn tại quốc gia. Do đó, kinh tế mở cửa sẽ tạo điều kiện cho FDI cùng những chuyển giao công nghệ tiên tiến và những hệ thống cải thiện chất lượng, do đó sẽ tăng năng suất, tăng trưởng kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khung nghiên cứu lý thuyết Vấn đền liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm và có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu tập trung vào chủ đề này, trong đó các lý thuyết tập trung phát triển từ nền tảng lý thuyết của S.
Các nhà kinh tế đều tin rằng, FDI là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hymes (1960) là nhà kinh tế đầu tiên phát triển lý thuyết về công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng thực hiện đầu tư. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện ( lao động, đất đai, chính trị,…) cho phép hok phát huy các lợi thế đặc thù.
Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước có sẵn nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng. Raymond Vernon (1996) nghiên cứu đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ vào các nước Đông Âu sau thế chiến thứ hai trong ngành sản xuất công nghiệp từ năm 1950-1970. Qua thời gian, Mỹ đã trở thành nước nhập khẩu chính của nhiều hàng hóa mà trước đây Mỹ từng sản xuất, phát triển và xuất khẩu. Vernon dựa vào bốn giai đoạn trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển quy trình và đi tới chín muồi; (3) Giai đoạn chín muồi hay được tiêu chuẩn hóa.
Trong giai đoạn đầu, các sản phẩm mới tung ra thị trường vẫn còn đang dần được hoàn thiện, doanh số tăng trưởng chậm, chưa có lợi nhuận vì phải tốn nhiều chi phí cho việc giới thiệu sản phẩm ra thị trường. Tiếp theo, trong giai đoạn tăng trưởng, sản phẩm được thị trường tiếp nhận nhanh chóng và sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước có chi phí thấp hơn.
Vì thế các công ty đa quốc gia của Mỹ tại nước ngoài có cơ hội xuất khẩu các sản phẩm này ngược lại thị trường Mỹ. Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn thứ hai của một chu kỳ kinh doanh.1 Lý thuyết chiết trung ( Eclectic), Dunning Mô hình tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau lý giải về FDI, và đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp. Cách tiếp cận này được biết đến dưới tên mô hình OLI: lợi thế về sở hữu ( Ownership Advantages); lợi thế địa điểm ( Location Advantage) và lợi thế nội bộ hóa ( Internalization Advantage). Lợi thế về sở hữu ( của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận.
Đó cũng có thể là một số tài sản vô hình hoặc các khả năng đặc biệt như công nghệ và thông tin, kỹ năng quản lý, marketing, hệ thống tổ chức và khả năng tiếp cận thị trường hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc các hàng hóa trung gian hoặc nguồn nguyên liệu thô, hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Dù tồn tại dưới hình thức nào, lợi thế về quyền sở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thị trường hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinh doanh ở nước ngoài. Lợi thế về địa điểm giúp các doanh nghiệp có lợi khi tiến hành sản xuất ở nước ngoài thay vì sản xuất ở nước mình rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố về nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế, xã hội như dung lượng, cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ phát triển, môi trường văn hóa, pháp luật, chính trị và thể chế.
Lợi thế nội bộ hóa: nếu một doanh nghiệp sở hữu một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất và nếu việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài có lợi hơn xuất khẩu hay cho thuê, thì chưa chắc doanh nghiệp sẽ xây dựng một chi nhánh ở nước ngoài. Một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 trong những cách lựa chọn khác là cấp giấy phép cho một doanh nghiệp nước ngoài để họ sản xuất sản phẩm hoặc sử dụng quy trình sản xuất. Tuy nhiên, do khó có thể tiến hành trao đổi các tài sản vô hình này trên thị trường, sản phẩm hoặc quy trình sản xuất sẽ được khi thác trong nội bộ doanh nghiệp hơn là đem trao đổi trên thị trường. Tóm lại, theo Dunning trong lý thuyết chiết trung ( Electic), để doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cần phải hồi đủ 3 lợi thế trên.
Tại bất cứ thời điểm nào, các doanh nghiệp của một nước, so với doanh nghiệp của nước khác, càng nắm giữ nhiều các lợi thế về quyền sở hữu, thì họ càng có động cơ mạnh để sử dụng chúng trong nội bộ hơn là phổ biến ra bên ngoài, họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sử dụng chúng ở một nước khác thì họ càng có động cơ để phát triển sản xuất ở nước ngoài. Mô hình OLI của Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ về những điều kiện đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, khi đề cập đến các điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, lý thuyết chiết trung (Electic) chỉ mới đề cập đến các điều kiện về phía doanh nghiệp mà chưa đề cập đến các điều kiện về phía Nhà nước. Trong khi đó, để doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài không chỉ cần những điều kiện từ phía các doanh nghiệp mà còn cần các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước.2 Học thuyết về lợi thế độc quyền, Stephen Hymer Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi như: khoảng cách địa lýlàm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực (chuyển giao công nghệ), thiếu hiểu biết về mội trường xa lạ làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa.
Tuy vậy họ vẫn nên tiến hành FDI khi họ có những lợi thế độc quyền(monogoly rights), họ sẽ giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty bản địa. Các lợi thế độc quyền đó có thể là công nghệ (tech innovation) hay nhãn hiệu.3 Học thuyết nội bộ hoá (Internalization), Buckley và Casson LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Theo học thuyết này, FDI tăng khi giao dịch bên trong công ty (InternalTransaction) tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty (MarketTransaction), giao dịch bên trong công ty tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách giữa các quốc gia làm tăng chi phí vận tải), không hoàn hảo mang tính cơ cấu (rào cản thương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môi trường; các yêu cầu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (là một sản phẩm vô hình mang tính thông tin nên dễ bị chia sẻ, khó bảo hộ và dễ bị đánh cắp…), công nghệ (cái không tồn tại như một thực thể,. Khi thị trường không hoàn hảo như vậy, người ta phải tạo ra thị trường bằng cách tạo ra thị trường nộ bộ ( Internal Market), sử dụng tài sản trong nội bộ công ty mẹ – con, con – con. Ví dụ, nếu có vấn đề liên quan đến việc mua các sản phẩm dầu lửa trên thị trường thi một doanhnghiệp có thể quyết định mua một nhà máy lọc dầu.Lợi ích của việc nội bộ hoá làtránh được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốnngười mua.
Ví dụ, một doanh nghiệp thép có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu cung cấp và chi phí giao dịch cao khi phải mua quặng sắt từ nướcngoài, đặc biệt khi doanh nghiệp này phải mua hàng ở một châu lục khác. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp này mua lại một công ty khai mỏ nước ngoài, tức là tiến hành việc nội bộ hoá bao gồm cả việc mua luôn quặng sắt và chi phí vận chuyển,nó sẽ loại bỏ được tình trạng thiếu nguyên liệu. Nội bộ hoá phải có những lợi ích lớn hơn chí phí phát sinh khi thành lập mạng lưới công ty mẹ – con thì mới được sử dụng. Tuy nhiên lý thuyết này không giải thích lợi ích của nội bộ hoá là gì ( lợi thế độc quyền), rất chung chung, không đưa ra được các bằng chứng cụ thể và rất khó kiểm chứng.