Luận văn thạc sĩ UEH: Đánh giá nghèo đa chiều của các hộ gia đình Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá nghèo đa chiều của các hộ gia đình Việt Nam, phân tích nguyên nhân và giải pháp cải thiện tình hình.

Chuyên ngành

Kinh tế Phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.2. Câu hỏi nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT ĐO LƯỜNG NGHÈO

1.1. Một số quan điểm về nghèo

1.2. Chuẩn nghèo theo thu nhập/chi tiêu

1.3. Phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều

1.4. Các phương pháp đo lường nghèo

1.4.1. Phương pháp nghèo đếm đầu

1.4.2. Phương pháp tính HPI

1.4.3. Phương pháp tính MPI

1.5. Các kết quả nghiên cứu liên quan đến các chiều và chỉ số nghèo

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

2.1. Định nghĩa các chiều & chỉ tiêu

2.2. Điều kiện sống

2.3. Điều kiện kinh tế

2.4. Trích lọc các chỉ tiêu

2.5. Bộ dữ liệu

2.6. Phân bố dữ liệu

2.7. Tình trạng nghèo theo chuẩn nghèo

2.7.1. Giữa các khu vực

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NGHÈO ĐA CHIỀU Ở VIỆT NAM

3.1. Nghèo đa chiều theo từng chỉ tiêu

3.1.1. Chỉ tiêu 1: Tuổi từ 18 chưa học hết THCS

3.1.2. Chỉ tiêu 2: tuổi từ 6 đến 18 tuổi chưa từng đi học

3.1.3. Chỉ tiêu 3: không có bảo hiểm y tế

3.1.4. Chỉ tiêu 4: không có đủ tiền chi trả viện phí

3.1.5. Chỉ tiêu 5: có bệnh mãn tính

3.1.6. Chỉ tiêu 6: không có điện sinh hoạt

3.1.7. Chỉ tiêu 7: không có hố xí hợp vệ sinh

3.1.8. Chỉ tiêu 8: không có nước uống sạch

3.1.9. Chỉ tiêu 9 & chỉ tiêu 10: không có điện thoại cố định và thiết bị giải trí cơ bản

3.1.10. Diện tích nhỏ hơn 7m2/người

3.1.11. Chỉ tiêu 12: Tiếp cận tín dụng ưu đãi người nghèo

3.1.12. Chỉ tiêu 13: thu nhập dưới chuẩn nghèo

3.1.13. Chỉ tiêu 14, chỉ tiêu 15: chủ hộ thất nghiệp hoặc không có lương hưu

3.2. Nghèo đa chiều theo từng chiều

3.3. Nghèo đa chiều tổng thể MPI

3.3.1. Chỉ số nghèo đếm đầu (H)

3.3.2. Cường độ thiếu hụt trung bình (A)

3.3.3. Chỉ số nghèo tổng thể MPI

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Các kết quả chính

4.2. Nhận xét và hướng nghiên cứu mới của đề tài

4.2.1. Điểm mới và hạn chế của đề tài

4.2.2. Hướng nghiên cứu mới của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PL 3.1. Kết quả phân tích phương sai về thu nhập bình quân đầu người giữa các vùng trên cả nước

PL 3.2. Số hộ nghèo theo các chỉ tiêu khi thiếu hụt 20% tổng số các chỉ tiêu

PL 3.3. Kết quả phân tích giá trị trung bình của quy mô hộ theo hai nhóm sắc tộc

PL 3.4. Sự chênh lệch về tỷ lệ hộ nghèo đếm đầu theo phương pháp tiền tệ và chỉ tiêu thu nhập trong phương pháp nghèo đa chiều

PL 3.5. Kết quả phân tích giá trị trung bình của thu nhập bình quân theo hai nhóm sắc tộc

PL 3.6. Sự thay đổi cường độ thiếu hụt trung bình ở các nhóm đối tượng theo sự gia tăng giới hạn thiếu hụt

PL 3.7. So sánh chỉ số nghèo đa chiều các tỉnh

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá nghèo đa chiều tại Việt Nam

Đánh giá nghèo đa chiều là một phương pháp quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo của các hộ gia đình tại Việt Nam. Phương pháp này không chỉ dựa vào thu nhập mà còn xem xét nhiều yếu tố khác như giáo dục, y tế, và điều kiện sống. Việc áp dụng phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng nghèo của người dân, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm giảm nghèo bền vững.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa của nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng thiếu hụt trong nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ đơn thuần là thu nhập. Điều này bao gồm việc thiếu tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, và nước sạch. Việc hiểu rõ về nghèo đa chiều giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về thực trạng nghèo tại Việt Nam.

1.2. Lịch sử và phát triển của phương pháp đánh giá nghèo

Phương pháp đánh giá nghèo đa chiều đã được áp dụng tại Việt Nam từ những năm 2000, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Qua thời gian, phương pháp này đã được cải tiến và điều chỉnh để phù hợp với thực tế của Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả trong việc giảm nghèo.

II. Vấn đề và thách thức trong đánh giá nghèo đa chiều

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc đánh giá nghèo đa chiều, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như thiếu dữ liệu chính xác, sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền, và sự thiếu hụt trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản vẫn tồn tại.

2.1. Thiếu dữ liệu và thông tin chính xác

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc đánh giá nghèo đa chiều là thiếu dữ liệu chính xác và đầy đủ. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định đúng tình trạng nghèo của các hộ gia đình, từ đó ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách.

2.2. Sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền

Tình trạng nghèo tại Việt Nam không đồng đều giữa các vùng miền. Các khu vực nông thôn thường gặp nhiều khó khăn hơn so với các khu vực thành phố. Điều này đòi hỏi các chính sách giảm nghèo cần phải được điều chỉnh để phù hợp với từng khu vực cụ thể.

III. Phương pháp đánh giá nghèo đa chiều hiệu quả

Để đánh giá nghèo đa chiều một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc sử dụng các chỉ số và tiêu chí rõ ràng sẽ giúp xác định chính xác tình trạng nghèo của các hộ gia đình.

3.1. Các chỉ số đo lường nghèo đa chiều

Các chỉ số như chỉ số nghèo đa chiều (MPI) và chỉ số thiếu hụt nghèo (H) là những công cụ quan trọng trong việc đánh giá tình trạng nghèo. Những chỉ số này giúp xác định mức độ thiếu hụt trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong đánh giá nghèo

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập và phân tích dữ liệu sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong đánh giá nghèo. Các phần mềm và công cụ phân tích dữ liệu hiện đại có thể hỗ trợ trong việc xử lý thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về nghèo đa chiều tại Việt Nam

Nghiên cứu về nghèo đa chiều tại Việt Nam đã chỉ ra rằng nhiều hộ gia đình vẫn đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt trong nhiều lĩnh vực. Kết quả này cho thấy cần có những chính sách cụ thể để hỗ trợ các hộ nghèo.

4.1. Tình trạng nghèo theo các chỉ tiêu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhiều hộ gia đình thiếu hụt trong các chỉ tiêu như giáo dục, y tế và điều kiện sống. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình hỗ trợ cụ thể nhằm cải thiện tình trạng này.

4.2. Đánh giá tác động của chính sách giảm nghèo

Các chính sách giảm nghèo đã có tác động tích cực đến việc cải thiện tình trạng nghèo tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo tính bền vững của các chương trình này.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc đánh giá nghèo đa chiều là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình trạng nghèo tại Việt Nam. Hướng nghiên cứu tương lai cần tập trung vào việc cải thiện phương pháp đánh giá và phát triển các chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn.

5.1. Tóm tắt các kết quả chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghèo đa chiều là một vấn đề phức tạp và cần được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Các kết quả cho thấy cần có sự phối hợp giữa các cơ quan để giải quyết vấn đề này.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Hướng nghiên cứu mới cần tập trung vào việc phát triển các công cụ và phương pháp đánh giá nghèo đa chiều, từ đó đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá nghèo đa chiều của các hộ gia đình việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 sẽ khảo lược một số các nghiên cứu thực nghiệm gần đây trong việc đánh giá nghèo đa chiều tại Việt Nam và một số nước trên thế giới nhằm làm nền tảng cho việc phân tích trong các chương tiếp theo.1 Một số quan điểm về nghèo Vào thập niên 1970 và những năm 1980: nghèo khổ được hiểu là sự “thiếu hụt” so với một mức sống nhất định. Nghèo khổ chỉ được tiếp cận theo nhu cầu cơ bản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực. “Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo khái niệm này, nghèo còn được chia thành hai nhóm, bao gồm: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối  Nghèo tuyệt đối: Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một thời gian nhất định.

 Nghèo tương đối: Là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định. Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là khác nhau. Hiện nay, định nghĩa này được Việt Nam cùng nhiều quốc gia khác sử dụng.

Tỉ lệ nghèo (hay chỉ số đếm đầu người) được xác định bằng tỉ lệ dân số có mức sinh hoạt (mức tiêu dùng bình quân đầu người) nằm dưới chuẩn nghèo trong một giai đoạn cụ thể.2 Chuẩn nghèo theo thu nhập/chi tiêu Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ. Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia hay còn gọi là chuẩn nghèo. Theo cách tiếp cận nghèo theo thu nhập/chi tiêu (phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều) thì chuẩn nghèo được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành. Từ trước đến nay Việt Nam vẫn sử dụng hai phương pháp tiếp cận khác nhau để đo lường nghèo đói và theo dõi tiến độ giảm nghèo.

Cả hai phương pháp này đều được khởi xướng từ đầu thập kỷ 90 và đã thay đổi qua thời gian. Phương pháp tiếp cận thứ nhất được xây dựng dưới sự chủ trì của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH), với tư cách là cơ quan đầu mối của Chính phủ chịu trách nhiệm về các chương trình và chính sách giảm nghèo. Bộ LĐTBXH được giao nhiệm vụ đề xuất chuẩn nghèo đô thị và chuẩn nghèo nông thôn chính thức vào đầu mỗi kỳ Kế hoạch Phát triển Kinh tế - xã hội 5 năm và xác định tỉ lệ nghèo vào đầu kỳ. Trên cơ sở sử dụng các chuẩn nghèo chính thức và tỉ lệ nghèo đầu kỳ kế hoạch, Bộ LĐTBXH chịu trách nhiệm đánh giá những thay đổi về tình hình nghèo đói và cập nhật danh sách hộ nghèo hàng năm, sử dụng kết hợp các phương pháp “từ dưới lên” gồm điều tra tại địa phương và họp thôn nhằm ghi nhận số người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- nghèo ở cấp địa phương (cấp xã), sau đó tổng hợp và tính toán ra tỉ lệ nghèo của tỉnh và của toàn quốc.

Tiến độ được đánh giá theo các chỉ tiêu về giảm nghèo được đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH ban đầu được tính trên cơ sở quy đổi ra gạo, nhưng kể từ năm 2005 thì đã được tính toán theo phương pháp chi phí cho nhu cầu cơ bản1. Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnh theo lạm phát thường xuyên, mà chỉ được chỉnh sửa theo giá thực tế với tần suất 5 năm một lần. Mục tiêu chính của Bộ LĐTBXH trong việc sử dụng phương thức tiếp cận này là nhằm xác định các khoản phân bổ ngân sách và xác định điều kiện tham gia thụ hưởng từ các chương trình mục tiêu về giảm nghèo (ví dụ chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo CTMTQG-GN, Chương trình 30a).

Phương pháp tiếp cận thứ hai là của TCTK và được dùng để đo lường nghèo đói và theo dõi tiến độ trên cơ sở sử dụng các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình mang tính đại diện cho toàn quốc. TCTK sử dụng hai phương pháp khác nhau để đo lường nghèo đói: một là dựa trên các chuẩn nghèo chính thức (có điều chỉnh theo lạm phát) được áp dụng để tính mức thu nhập bình quân đầu người, và phương pháp thứ hai là theo phương thức tiếp cận do một nhóm phối hợp giữa TCTK – NHTG xây dựng vào cuối thập kỷ 90 và lần đầu tiên được trình bày trong đánh giá nghèo năm 2000. 1 Nhu cầu cơ bản là nhu cầu thiết yếu đảm bảo các thành viên trong hộ có đủ lương thực, thực phẩm để duy trì sức khỏe và sản xuất cũng như có phương tiện để tham gia đầy đủ vào xã hội (NHTG, 2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Tỷ lệ nghèo tính theo chuẩn nghèo của TCTK-NHTG và Bộ LĐTBXH Nguồn: NHTG (2012) Chuẩn nghèo của TCTK – NHTG được xây dựng theo phương pháp chuẩn chi phí của những nhu cầu cơ bản, dựa trên một rổ lương thực tham khảo cho các hộ nghèo tính theo lượng calo mà mỗi người dân tiêu tốn một ngày cộng với một khoản bổ sung cho những nhu cầu phi lương thực thiết yếu dựa trên mô hình tiêu dùng của người nghèo.

Theo NHTG, chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống của người dân các nước đang phát triển và khu vực ASEAN tương ứng với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Chuẩn nghèo phân theo lượng calo tiêu dùng hàng ngày tối thiểu Quốc gia Lượng calo Ghi chú (calo/người/ngày) Ấn Độ 2250 Bangladesh 2100 Indonesia 2100 1980s Trung Quốc 2150 1990 Công nghiệp phát triển 2570 Việt Nam 2100 1993 Nguồn: NHTG (2012) Không giống như các chuẩn nghèo chính thức của Việt Nam, các chuẩn nghèo của TCTK – NHTG đã được duy trì tương đối ổn định tính theo sức mua thực tế kể từ cuối thập kỷ 90, và được áp dụng chủ yếu được dùng trong nghiên cứu và hoạch định chính sách về tình hình nghèo đói qua thời gian ở cấp quốc gia, ở thành thị/nông thôn, và ở cấp vùng. Chuẩn mực đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận, điều kiện kinh tế và thời gian quy định. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội hầu hết các nước đều tăng chuẩn nghèo của quốc gia.

Vào tháng 9 năm 2010, Việt Nam đã công bố tỉ lệ nghèo chính thức mới là 14,2%. So với chuẩn nghèo quốc tế (tính theo sức mua tương đương năm 2005) cho các nước đang phát triển và chuyển đổi (2,0 USD /người/ngày), chuẩn trung vị dành cho tất cả các nước không kể 15 nước nghèo nhất (2,5 USD/người/ngày) và các nước Mỹ La Tinh (4 USD/người/ngày) thì chuẩn nghèo của Việt Nam vẫn thấp hơn. Cụ thể chuẩn nghèo chính thức cho khu vực đô thị đã được nâng từ 260.000 VND/người/tháng (bằng 1,34 USD/người/ngày) lên thành 500. Chuẩn nghèo chính thức cho khu vực nông thôn được nâng từ 200.000 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -11- VND/người/ngày (bằng 1,03 USD/người/ngày) lên 400.000 VND/người/ngày (bằng 1,29 USD/người/ngày).2 Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn Đơn vị tính: đồng/người/tháng Quyết định Giai đoạn Thành thị Nông thôn của Thủ tướng 2001-2005 150.000 09/2011/QĐTTg ngày 30/01/2011 Nguồn: Tổng hợp từ các quyết định của Thủ tướng về chuẩn nghèo 1.2 Phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều Đo lường nghèo là một nhiệm vụ đầy thách thức và phức tạp bởi bản thân khái niệm nghèo rất phức tạp và bao hàm nhiều khía cạnh.

Nếu chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập/chi tiêu để đánh giá chuẩn nghèo thì chưa hợp lý. Trên thực tế, nhiều người dân tuy đã thoát nghèo theo các tiêu chuẩn trên vẫn thiếu thốn rất nhiều những nhu cầu thiết yếu về công việc, nhà ở, y tế, giáo dục và các điều kiện sinh hoạt khác so với mức phát triển chung của cộng đồng. Từ đó, tạo ra những thách thức về tình trạng tái nghèo và tính bền vững trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Ngoài ra, việc chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập/chi tiêu để đánh giá là chưa hợp lý, vô tình loại rất nhiều nhóm dân cư, bộ phận ra khỏi đối tượng nghèo, khi mà ở những khía cạnh khác họ vẫn thuộc diện nghèo.

Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề chất lượng bền vững trong giảm nghèo cần thiết phải có phương pháp tiếp cận đa chiều. Tình trạng nghèo đói phải được xem như một hiện tượng đa chiều, có thể đo bằng tiêu chí thu nhập (hoặc chi tiêu) và các tiêu chí phi thu nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -12- Báo cáo Phát triển con người (HDR) năm 2010 của Liên hợp quốc sử dụng một chỉ số mới được gọi là Chỉ số nghèo đa chiều (MPI). Chỉ số này do Viện nghiên cứu vấn đề nghèo đói và sáng kiến phát triển con người của đại học Oxford (OPHI) và Cơ quan báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng dựa trên phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Alkire và Foster (2007).

Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với chuẩn nghèo tiền tệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ