Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Khung phân tı́ch, dữ liê ̣u và cách tiế p câ ̣n. Chương 3: Đánh giá tác đô ̣ng của của chương trình TDVM của CEP đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chương 4: Nguyên nhân dẫn đế n kế t quả tác đô ̣ng, kế t luâ ̣n và hàm ý chı́nh sách.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vitor và cộng sự (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của TDVM đối với thu nhập của hộ kinh doanh nhỏ ở Miền Trung Ghana. Bằng phân tích hồi quy điểm xu hướng (PSM), kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng về các thủ tục, tham gia thành viên các hiệp hội kinh doanh, khoản tiền tiết kiệm, chi phí lãi suất là những nhân tố có ảnh hưởng đến việc tham gia vào chương trình TDVM. Rukiye (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình TDVM đến thu nhập của các hộ gia đình tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Kết quả kiểm định thống kê phi tham số cho thấy TDVM như một thành công cho công tác giảm nghèo. Yusuf và cộng sự (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình TVDM thuộc Quỹ xóa đói giảm nghèo (PPAF) của Pakistan đối với nghèo đói. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logit. Kết quả cho thấy, TDVM ảnh hưởng không đáng kể đến tình trạng nghèo của những người thụ hưởng.
Ayen (2016) phân tích ảnh hưởng của chương trình TDVM đối với hộ gia đình ở Jimma Zone, Ethiopia. Với kỹ thuật phân tích hồi quy điểm xu hướng (PSM), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nghiên cứu cho rằng những hộ gia đình có nhiều đất đai đất đai, thu nhập và giá cả sản phẩm sản xuất ra ảnh hưởng đến khả năng tham gia TDVM nhiều hơn. Có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia. Các nghiên cứu ở Việt Nam Quách Mạnh Hào (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của TDVM đến thu nhập của hộ gia đình.
Nghiên cứu đã kết luận rằng thu nhập của hộ gia đình phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ gia đình. Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu về tác động của TDVM đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, TPHCM. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy 2 nhóm nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ đó là nhóm nhân tố thuộc bản thân hộ gia đình nghèo (trình độ học vấn và số người có việc làm trong hộ) và nhóm nhân tố TDVM (tổng số tiền vay, số lần tham gia tập huấn từ chương trình TDVM, mục đích sử dụng vốn của hộ). Đinh Phi Hổ và Đồng Đức (2015) nghiên cứu tác động của tín dụng chính thức đối với thu nhập và chi tiêu của hộ nông dân ở Việt Nam.
Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của tín dụng chính thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tín dụng chính thức có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của nông hộ. Bùi Thị Mai Hoài và Ngô Minh Cam (2016) đã sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá ảnh hưởng của tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu cho thấy, tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội đã giúp tăng thu nhập của hộ nghèo thêm 0,498 triệu đồng/người trong giai đoạn 2012 - 2015.
Mai Thị Hồng Đào (2016), nghiên cứu về ảnh hưởng TDVM đối với thu nhập của hộ nghèo tại Việt Nam. Mô hình hồi quy tuyến tính logarit được sử dụng, kết quả cho thấy TDVM có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của hộ nghèo. Theo tìm hiểu của tác giả, trong suốt 10 năm Quỹ CEP hoạt động tại tỉnh Đồng Tháp nhưng cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về đánh giá ảnh hưởng của chương trình TDVM của CEP đối với thu nhập của hộ nghèo tại thành phố Cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Có thể khẳng định, đây là điểm mới của đề tài.
Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn Luận văn này hướng đến mục tiêu đánh giá tác động của chương trình TDVM của CEP đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Đồ ng thời, tı̀m hiể u nguyên nhân dẫn đế n kế t quả tác đô ̣ng đó. Trên cơ sở tı̀m hiể u nguyên nhân, tác giả kỳ vo ̣ng đưa ra các khuyế n nghi ̣ về chính sách đến Quỹ CEP để có những cải thiê ̣n trong chương trình TDVM của CEP nhằ m triể n khai thực hiê ̣n thành công chương trình này. Từ đó gia tăng thu nhâ ̣p, cải thiê ̣n đời số ng cho người nghèo trên điạ bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2. KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 2. TDVM Hiện nay có rất nhiều quan niệm về TDVM, theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về TDVM tại Washington cho rằng TDVM là việc cung cấp các khoản vay có quy mô nhỏ đến đối tượng nghèo với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ (Microcredit Summit, 1997). TDVM được sử dụng để mô tả các khoản vay nhỏ được cấp cho các cá nhân có thu nhập thấp bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống.
Nó là một phần của TCVM, cung cấp tín dụng không chỉ có cho vay mà còn tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo. Thuật ngữ “vi mô” xuất phát từ số tiền cho vay tương đối nhỏ (Microworld, 2018). Đồng thuận quan điểm này, Ledgerwood (1999) và Chowdhury (2000) cho rằng TDVM là các khoản cho vay nhỏ; Abhijit và cộng sự (2015) cho rằng TDVM là cung cấp các khoản vay nhỏ cho các mục đích kinh doanh, sản xuất, các hoạt động tạo ra thu nhập và tạo dựng giá trị tài sản. TDVM có nghĩa là khoản vay nhỏ cho những người cần tiền để tự làm chủ các dự án tạo ra thu nhập hoặc cho các nhu cầu gia đình khẩn cấp như vấn đề về sức khỏe và giáo dục.
Nó có nghĩa là để giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách cung cấp cho họ một nhỏ số tiền trong một khoảng thời gian ngắn (Maheswaranathan và Kennedy, 2008). Như vậy, có thể cho thấy TDVM đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng TDVM là dịch vụ cung cấp cho những người nghèo và những người không thể tiếp cận nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bằng các khoản vay nhỏ, giúp họ tự tạo việc làm và tạo ra thu nhập (Mohanan, 2005). Trong phạm vi đề tài này, TDVM được hiểu là việc cung cấp khoản cho vay nhỏ đến các hộ nghèo giúp họ tự tạo việc làm và gia tăng thu nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nghèo và hộ nghèo 2. Khái niệm nghèo, hộ nghèo Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính toàn cầu tồn tại ở hầu hết các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Nghèo được chia thành: (1) Nghèo tuyệt đối là tình trạng người nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, đi lại. Năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra 3 khái niệm có liên quan mật thiết với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập, nghèo tiếp cận và nghèo sức mạnh.
Nghèo thu nhập là thu nhập dưới ngưỡng nghèo. Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ nghèo của một quốc gia. Nghèo tiếp cận là tình trạng người nghèo không tiếp cận được với các dịch vụ cơ bản, từ giáo dục cho đến y tế, nguồn vốn, nhà ở, nước sạch, an sinh xã hội, chính sách. Nghèo tiếp cận làm dẫn tới nghèo bền vững.
Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ người nghèo không được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ. Nghèo đa chiều có thể đo lường bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật là những nội dung liên quan trong khái niệm nghèo đa chiều. Chỉ số nghèo đa chiều của thế giới, với ba chiều cạnh là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, là thước đo quan trọng bổ sung cho phương pháp đo nghèo truyền thống chỉ dựa trên thu nhập.
Hộ nghèo là hộ gia đình chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện (Tổng Cục thống kê, 2016). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Đói nghèo tính theo đầu người là số lượng những cá nhân sống trong các hộ gia đình ở một quốc gia hoặc một khu vực, mà thu nhập hay mức tiêu dùng của họ ở dưới một ngưỡng đói nghèo cụ thể. Đói nghèo tính theo đầu người là thước đo chính xác về số lượng người nghèo (UNDP, 2012). Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, tức là hộ nghèo là những hộ có thu nhập thấp hơn ngưỡng nghèo theo quy định của Chính phủ và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là chính sách vay vốn của CEP.
Chuẩn nghèo của một số quốc gia Về cơ bản, vấn đề nghèo đói đang là vấn đề chung toàn cầu, các quốc gia đang tập trung đẩy lùi căn bệnh được xem là tồn tại dai dẳng nhiều thập kỷ qua. Theo đó, để đánh giá nghèo đói người ta dùng đường nghèo đói. WB (2012) đánh giá nghèo đói ở hai loại đường nghèo đói: đường nghèo đói chung và đường nghèo đói về lương thực thực phẩm. Ở Ấn Độ lấy tiêu chuẩn là 2.250 calo/người/ngày.
Ở Bangladesh lấy tiêu chuẩn là 2.100 calo/người/ngày. Ở Indonesia, những năm 1980 lấy mức 2.100 calo/ người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo. Ở Trung Quốc, năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2.150 calo/người/ngày. Các nước ở Châu Âu: 2.570 calo/người/ngày.
Đường nghèo đói chung gồm nghèo đói về lương thực tính cả các chi phí cho mặt hàng phi lương thực, thực phẩm (1 USD/ngày) hoặc mức thu nhập trung bình là 370 USD/người/năm.