Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân tích năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút ĐTNN - Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút ĐTNN - Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút ĐTNN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ch-¬ng 1 - Trang 20 Ch-¬ng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM TRONG THU HÚT ĐTNN 1. CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA: 1. Các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh quốc gia: Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh được hiểu, định nghĩa khác nhau. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau.
Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng, và đối với một quốc gia là mức tăng trưởng bền vững. Trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu cũng như hạn chế được các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội. Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn cải tiến, nâng cao công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý nhằm nâng cao uy tín của mình.
Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ch-¬ng 1 - Trang 21 tuỳ tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần hạn chế méo mó giá cả và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Trên bình diện quốc tế, chính cạnh tranh đã thúc ép các doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trên thị trường quốc tế. Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy được lợi thế so sánh, cạnh tranh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cạnh tranh cũng như các quy luật/hiện tượng kinh tế, xã hội khác chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Nền kinh tế thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần kinh tế là tiền đề cơ bản cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường hợp chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước. Việc can thiệp thích hợp của Nhà nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp cơ chế cạnh tranh được vận hành thông suốt trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Như vậy, cơ chế cạnh tranh chỉ có thể vận hành một cách hiệu quả trong môi trường kinh tế thị trường và có sự điều tiết hợp lý của Nhà nước. Lợi thế cạnh tranh quốc gia (competitiveness advantage of nation) được hiểu tương đồng với tính cạnh tranh hay năng lực hoặc khả năng cạnh tranh quốc gia (competitiveness). Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 thì năng lực cạnh tranh quốc gia là "năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ch-¬ng 1 - Trang 22 tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối vững chắc“.
Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là: "khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được tăng trưởng kinh tế cao, được xác định bằng thay đổi của GDP trên đầu người theo thời gian". Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của Mỹ quan niệm tính cạnh tranh quốc gia là "mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất được các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó". Khái quát lại, khả năng cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng bền vững, bảo đảm ổn định kinh tế và nâng cao đời sống của dân cư. Đó là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung đảm bảo phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các chủ thể kinh tế theo các tín hiệu thị trường.
Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh quốc gia: Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ tiêu tổng hợp, bao gồm nhiều nhóm yếu tố khác nhau, phản ánh chất lượng và trình độ phát triển của thể chế nhà nước, vai trò quản lý của nhà nước, các thể chế của kinh tế thị trường, độ mở của nền kinh tế, quản lý của doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chất lượng và số lượng lao động và khoa học-công nghệ. Để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia, hiện nay, các nước đang áp dụng các chỉ số theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) được sử dụng từ năm 1997 đến 1999 cũng như Chỉ số Năng lực cạnh tranh tăng LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ch-¬ng 1 - Trang 23 trưởng (Growth Competitiveness Index) và Chỉ số Năng lực cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index) được sử dụng từ năm 2000. Theo WEF (1997), Chỉ số khả năng cạnh tranh quốc gia được xây dựng theo khung khổ nội dung các nhân tố xác định tính cạnh tranh tổng thể được chia thành 8 nhóm (với tổng số gồm khoảng 250 vi chỉ số) bao gồm: - Độ mở kinh tế: mức độ hội nhập của một nước vào nền kinh tế thế giới xét về mức độ tự do hoá thương mại quốc tế và chế độ đầu tư, bao gồm các chính sách về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách tỷ giá, các dịch vụ trợ giúp xuất khẩu, khả năng chuyển đổi của đồng tiền đối với các giao dịch vãng lai. - Chính phủ: vai trò của Nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế bao gồm các chính sách về tài khoá, mức độ can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp, tính minh bạch và công khai trong chính sách, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước (quan liêu, tham nhũng, tính chuyên nghiệp.
- Tài chính: vai trò của thị trường tài chính trong việc điều chỉnh tương quan tối ưu giữa tiêu dùng, tiết kiệm và hiệu quả của các cơ quan trung gian tài chính bao gồm các chính sách tiền tệ, tỷ giá, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ tài chính, tiền tệ, chất lượng và trình độ phát triển của hệ thống tài chính, tiền tệ, khả năng ngăn ngừa các rủi ro tài chính. - Công nghệ: là hệ thống các chỉ tiêu phản ánh trình độ khoa học và công nghệ so với thế giới bao gồm mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai; trình độ công nghệ và tích luỹ kiến thức công nghệ; khả năng tiếp thu công nghệ mới, sự phát triển của thị trường công nghệ. - Kết cấu hạ tầng: số lượng và chất lượng của hệ thống giao thông, mạng viễn thông, cung cấp điện, nước, kho tàng và các phương tiện khác của cơ sở hạ tầng nâng cao hiệu quả đầu tư. Một trong những tiêu chí cũng được xem xét là LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ch-¬ng 1 - Trang 24 mức độ độc quyền trong các dịch vụ kết cấu hạ tầng, khả năng thu hút khu vực tư nhân trong nước và ngoài nước để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, vì các yếu tố này góp phần nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.
- Quản trị: chất lượng quản lý nói chung (của quá trình sản xuất, quản lý chất lượng toàn diện, tiếp thị, xu hướng của khách hàng, kinh doanh) bao gồm chiến lược cạnh tranh, chiến lược chất lượng sản phẩm, khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược về tài chính, khả năng tiếp thị, phân tích các đối thủ cạnh tranh, đề xuất một chiến lược phát triển hợp lý - Lao động: được đánh giá dựa trên các yếu tố về số lượng lao động, chất lượng đào tạo (ngoại ngữ, đào tạo về các ngành chuyên môn, trình độ chuyên môn trên các ngành lĩnh vực khác nhau), sức khoẻ, kỷ luật lao động, tần số đình công trong nền kinh tế, mức độ thay đổi chỗ làm việc v. Một tiêu chí quan trọng là chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm để so sánh chi phí tiền công với năng suất lao động đạt được. Chi phí tiền lương bao gồm cả chi phí đào tạo, thuế thu nhập và bảo hiểm, tức là tổng chi phí về lao động đối với doanh nghiệp.